Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã sớm xác định kẻ thù của dân tộc ta là thực dân Pháp và đề ra đường lối, chính sách đúng đắn, hiệu quả để đương đầu với kẻ thù.
1-Trên cơ sở dự báo chính xác việc thực dân Pháp sẽ quay trở lại xâm lược Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân chuẩn bị thực lực để kháng chiến toàn diện.
Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã không bị bất ngờ bởi âm mưu và dã tâm xâm lược của thực dân Pháp.
Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủ lâm thời, đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước quốc dân, tuyên bố nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (DCCH) ra đời, đồng thời khẳng định: “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của thực dân Pháp”.
Ngày 23-9-1945, được sự giúp sức của quân Anh, thực dân Pháp đã nổ súng quay trở lại xâm lược Nam Bộ. Bị bao vây bởi thù trong, giặc ngoài; bị đe dọa bởi nạn đói, nạn thất học và nạn ngoại xâm cùng các thế lực phản động điên cuồng phá hoại nền độc lập vừa giành được, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã thực hiện những biện pháp cấp bách để từng bước đưa nước nhà ra khỏi tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.
|
Đối phó với nạn đói ở miền Bắc và thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta quyết định: nhiệm vụ “cứu đói ở Bắc” được tiến hành đồng thời cùng với nhiệm vụ “kháng chiến ở Nam”. Một phong trào ủng hộ cuộc kháng chiến của đồng bào Nam Bộ, giải quyết nạn đói ở miền Bắc đã được phát động và thực hiện rộng khắp trên địa bàn cả nước. Đồng thời với việc Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “sẻ cơm nhường áo”, là việc thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, thực hiện tấc đất, tấc vàng, ban hành các sắc lệnh: cấm đầu cơ tích trữ gạo, cấm dùng gạo để nấu rượu, lập Uỷ ban tối cao tiếp tế và cứu tế của Chính phủ, tổ chức vận chuyển gạo từ Nam ra Bắc để từng bước giải quyết nạn đói...
Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng nhận thức rõ rằng, cứu đói không chỉ dừng lại ở việc nhận tiếp tế. Để giải quyết dứt điểm nạn đói phải thực hiện chiến lược phát triển sản xuất. Chính phủ lâm thời đã xúc tiến việc củng cố đê điều ở những nơi bị vỡ, tịch thu ruộng đất của bọn thực dân Pháp và Việt gian giao cho nông dân cày cấy, chia ruộng công, giảm tô, giảm tức. |
Kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước siết chặt hàng ngũ, ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đánh giặc là nhiệm vụ của toàn dân, phải huy động tất cả lực lượng trong nước để chống giặc, bảo vệ Tổ quốc. Người đã cùng Trung ương Đảng chỉ đạo việc tổ chức toàn dân sẵn sàng tiến hành chiến tranh, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, bởi: “Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được”. Vì vậy, sau một thời gian ngắn, hầu hết các tỉnh ở Bắc Bộ và Trung Bộ đều đã có những chi đội, tương đương cấp trung đoàn, lên đường Nam tiến đánh giặc.
Để bảo vệ chính quyền cách mạng, sát cánh cùng chiến trường miền Nam và sẵn sàng khi chiến tranh xảy ra trên cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng và Chính phủ rất coi trọng việc xây dựng quân đội Việt Nam chính quy, để đấu tranh vũ trang có thể giữ vai trò chủ yếu quyết định ngay từ khi chiến sự nổ ra. Mặt khác, việc phát triển dân quân tự vệ, xây dựng lực lượng an ninh quốc gia cũng được coi trọng. Từ tháng 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị phải chấn chỉnh, mở rộng Giải phóng quân và đổi tên thành Vệ quốc đoàn; thành lập Bộ Tổng tham mưu với nhiệm vụ tổ chức và huấn luyện quân đội, nắm tình hình địch, vạch kế hoạch để đánh và thắng địch; thành lập các trường quân chính cả ở miền Trung và miền Bắc.
Tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của các nước về nền độc lập của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã liên tiếp gửi thư cho các cường quốc, tố cáo sự xâm lược của thực dân Pháp, nêu cao ngọn cờ độc lập, tự do chân chính của dân tộc Việt Nam, đồng thời yêu cầu công nhận vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế.
Hoạt động nội trị và ngoại giao của Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đẩy lùi nạn đói, chống nạn mù chữ, nâng cao dân trí, xây dựng đời sống mới, nền văn hoá mới, nền giáo dục mới cho nhân dân lao động.
2-Thông qua các hoạt động chỉ đạo cách mạng, bằng sự mềm dẻo và nhân nhượng có nguyên tắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xây dựng và củng cố sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân.
Song song với việc cấp bách ban hành các sắc lệnh, thực hiện các biện pháp tình thế để từng bước khắc phục những khó khăn, củng cố nền DCCH, là việc Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ thực hiện sách lược hoà hoãn và phân hoá kẻ thù.
Với tinh thần đoàn kết, Mặt trận Việt Minh đã chủ động thực hiện sự hoà hoãn và nhân nhượng với các tổ chức Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách), Việt Nam quốc dân đảng (Việt Quốc)… nhằm hướng tới mục tiêu tiến hành Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên trong cả nước. Những biện pháp tình thế, mềm dẻo của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần củng cố, giữ gìn, khơi dậy tiềm năng sáng tạo của chính quyền dân chủ nhân dân còn non trẻ, đồng thời củng cố, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân.
Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta ý thức sâu sắc rằng: sau Cách mạng Tháng Tám 1945, việc giữ vững và bảo vệ chính quyền cách mạng là một nhiệm vụ hết sức cấp bách, sống còn. Muốn vậy, phải xây dựng chính quyền vững mạnh về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, giáo dục và tiến hành các hoạt động ngoại giao để tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Sức mạnh của bộ máy chính quyền sẽ được nhân lên khi có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ và được xây dựng, củng cố trên cơ sở thực lực của toàn dân. Để tiến hành các hoạt động đối nội và tham gia vào các quan hệ quốc tế thì không thể cứ kéo dài mãi việc điều hành đất nước bằng hình thức tổ chức Chính phủ lâm thời. Vì vậy, trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng của những ngày đầu mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn khẩn trương xúc tiến các công tác chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.
Ngày 6-1-1946, sau nhiều trở ngại, cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá I đã diễn ra theo đúng kế hoạch và thắng lợi trên phạm vi cả nước. Như vậy là, ba tháng sau ngày tuyên bố độc lập, với tinh thần “Tổ quốc trên hết”, “Dân tộc trên hết”, bằng ý chí quyết tâm của khối toàn dân đoàn kết, nhân dân ta đã bầu ra Quốc hội đầu tiên. Nhân dân Việt Nam đã dùng lá phiếu cử tri để hưởng dụng quyền dân chủ của người dân một nước độc lập, khẳng định quyền tự định đoạt vận mệnh của mình. Hội đồng nhân dân các cấp tỉnh, huyện và xã cũng được tiến hành xây dựng, củng cố theo con đường tương tự. Vì thế, thắng lợi của Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 đã không chỉ bầu ra Quốc hội-cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, mà còn khẳng định quyền tự do, dân chủ, quyền làm chủ của người dân Việt Nam trong thực tế. Thắng lợi đó cũng góp phần nâng cao ý thức của mỗi người dân về trách nhiệm phải bảo vệ chế độ, phải bảo vệ quyền làm chủ đất nước của mình.
3-Trong một thời gian không dài, Nhà nước Việt Nam DCCH đã có một Quốc hội tượng trưng cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, một Chính phủ hợp hiến, hợp pháp, một bản Hiến pháp dân tộc, dân chủ, công bằng.
Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những cố gắng vượt bậc và nhân nhượng cần thiết (nhường 70 ghế trong Quốc hội không thông qua bầu cử cho đại diện của Việt Quốc và Việt Cách). Ngày 2-3-1946, tại Hà Nội, Quốc hội khoá I đã họp kỳ họp thứ nhất. Được sự uỷ quyền và tín nhiệm của Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến để điều hành đất nước.
Thông qua việc ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước Việt-Pháp 14-9-1946, Việt Nam đã có một quỹ thời gian không dài nhưng thật cần thiết để củng cố chế độ cộng hoà và xây dựng thực lực chuẩn bị kháng chiến.
Thời kỳ này, sách lược phân hoá, cô lập kẻ thù, tránh cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta thực hiện thành công. Lúc đầu ta thực hiện hoà hoãn với quân Trung Hoa dân quốc để tập trung đối phó với thực dân Pháp, tập trung mũi nhọn chống kẻ thù chủ yếu, trước mắt là thực dân Pháp. Sau đó, chúng ta lại thương lượng, hoà hoãn nhân nhượng Pháp để nhanh chóng đuổi quân Trung Hoa dân quốc về nước, có thêm thời gian chuẩn bị thực lực. Những bước đi trên thực sự là sách lược tuyệt vời của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc phân hoá hàng ngũ kẻ thù.
Cuối năm 1946, tình hình đất nước đã có những bước phát triển mới. Nước nhà đã vượt qua được khó khăn ban đầu sau khi thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ cấp bách và tiến hành các hoạt động ngoại giao mềm dẻo. Hệ thống chính quyền các cấp từ trung ương xuống đến địa phương dần dần ổn định và kiện toàn. Trong bối cảnh đó (từ 28-10 đến 9-11-1946), Quốc hội đã họp kỳ thứ 2 và quyết định một số nội dung quan trọng. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp 1946, chuẩn y 14 thành viên Chính phủ kháng chiến, 18 thành viên của Ban thường trực Quốc hội, do cụ Bùi Bằng Đoàn làm Trưởng ban. Nhận xét về ý nghĩa của bản Hiến pháp 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng bản Hiến pháp đã “nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp”, đồng thời khẳng định trên thực tế: “Việt Nam đã độc lập” và thực sự là một nước dân chủ.
Đánh giá về những thành tựu mà đất nước ta đã đạt được đến cuối năm 1946, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nêu rõ: “Cuộc tranh thủ độc lập của ta đã đạt được những kết quả tốt đẹp, nay đã bước vào một giai đoạn mới”. Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa nước ta vượt qua các bước khó khăn và nhờ sự đồng tâm hiệp lực của quốc dân đã đưa nưóc nhà tới một địa vị khả quan. Đó là một thành công lớn trong việc tận dụng khả năng hoà hoãn với kẻ thù, chuẩn bị lực lượng về mọi mặt cho cuộc trường kỳ kháng chiến của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi nguy cơ chiến tranh ngày càng lớn.
4-Trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã biết mở đầu đúng lúc cuộc kháng chiến khi không còn khả năng cứu vãn hoà bình.
Với những kết quả đã đạt được sau 15 tháng xây dựng và củng cố nền DCCH, ta đã có một Chính phủ đủ mạnh bao gồm những con người mẫn cán, có tinh thần cách mạng, có tri thức, sẵn sàng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Cùng với những chế định cụ thể về các quyền hạn và nghĩa vụ công dân, đặc biệt là quyền hạn của Chủ tịch nước, của Quốc hội, được quy định trong Hiến pháp 1946, Nhà nước Việt Nam DCCH đã có thể bắt đầu tiến hành một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện để bảo vệ độc lập, thống nhất và chủ quyền lãnh thổ.
Ngày 19-12-1946, khi những nhân nhượng có tính nguyên tắc đã không được phía Pháp chấp nhận, khi thực dân Pháp cố tình gây chiến và cắt đứt mọi con đường dẫn đến thương lượng hoà bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã phát động Toàn quốc kháng chiến.
Trên cơ sở dự báo chính xác việc thực dân Pháp nhất định sẽ quay trở lại xâm lược nước ta, biết cách huy động nguồn sức mạnh nội sinh của toàn dân tộc, chuẩn bị chu đáo về tinh thần và lực lượng, đường lối và đội ngũ cán bộ, cân nhắc kỹ lưỡng quy luật của chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng cùng toàn thể nhân dân Việt Nam, với quyết tâm: “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” đã vững vàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp trên phạm vi cả nước.
VĂN THỊ THANH MAI