Phóng viên (PV): Thưa đồng chí Cục trưởng, khoản 3 Điều 36 Luật Bảo vệ DLCN quy định Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ DLCN thuộc phạm vi quản lý. Đồng chí có thể khái quát ý nghĩa quy định này?

Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng. Ảnh: NGUYÊN VỤ

Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng: Trước hết, cần thống nhất cách hiểu về DLCN, DLCN cơ bản, DLCN nhạy cảm, bảo vệ DLCN, nguyên tắc bảo vệ DLCN, làm cơ sở để xác định trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ DLCN. Theo đó, bảo vệ DLCN là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng lực lượng, phương tiện, biện pháp để phòng, chống hoạt động xâm phạm DLCN.

Luật Bảo vệ DLCN (Điều 36) quy định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ DLCN. Bộ Quốc phòng là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ DLCN thuộc phạm vi quản lý. Quy định này khẳng định hai vấn đề cốt lõi:

Thứ nhất, bảo vệ DLCN không chỉ là vấn đề dân sự hay kinh tế-xã hội mà còn gắn trực tiếp với quốc phòng, an ninh quốc gia.

Thứ hai, Bộ Quốc phòng không đứng ngoài trách nhiệm bảo vệ DLCN, mà phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm, thẩm quyền quản lý nhà nước theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, bảo đảm vừa giữ vững bí mật quân sự, quốc phòng, cơ yếu, vừa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cá nhân theo quy định của pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội chính quy, hiện đại.

Đại biểu Quốc hội nghe Báo cáo tóm tắt giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, tháng 6-2025. Ảnh: VŨ HIẾU

PV: Nghị định số 356/2025/NĐ-CP cụ thể hóa trách nhiệm này như thế nào, thưa đồng chí?

Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng: Nghị định số 356/2025/NĐ-CP (Điều 35) quy định rõ trách nhiệm của Bộ Quốc phòng trong quản lý nhà nước về bảo vệ DLCN như bố trí lực lượng, phương tiện bảo vệ DLCN, phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ DLCN thuộc phạm vi quản lý; đánh giá kết quả và thúc đẩy áp dụng các biện pháp bảo vệ DLCN; nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ trong xử lý và bảo vệ DLCN phục vụ hoạt động quốc phòng; thực hiện hợp tác quốc tế về bảo vệ DLCN thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và kiến thức, kỹ năng bảo vệ DLCN cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ và lao động hợp đồng; thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm...

Có thể khẳng định, Chính phủ đã cụ thể hóa đầy đủ khoản 3 Điều 36 Luật Bảo vệ DLCN, tạo hành lang pháp lý vững chắc, thống nhất, đồng bộ để tổ chức thực hiện trong toàn quân.

PV: Đề nghị đồng chí làm rõ nội dung “phối hợp với Bộ Công an và các cơ quan, tổ chức có liên quan” trong bảo vệ DLCN thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng?

Nắm vững kiến thức chuyển đổi số góp phần bảo vệ dữ liệu cá nhân. Trong ảnh: Cán bộ, học viên Trường Sĩ quan Thông tin (Binh chủng Thông tin liên lạc) truy cập kho học liệu số tại Trung tâm Học liệu - Thư viện). Ảnh: THANH ĐỊNH

Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng: Phối hợp ở đây phải được hiểu đúng bản chất pháp lý. Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ DLCN trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, cơ yếu; Bộ Công an là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ quản lý nhà nước chung về bảo vệ DLCN, trừ nội dung thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng. Do đó, việc phối hợp là yêu cầu khách quan, bảo đảm thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi Bộ và bảo đảm thống nhất quản lý nhà nước của Chính phủ.

Việc phối hợp phải được thực hiện trên nguyên tắc phân công rõ ràng, đúng vị trí, vai trò, chức năng, thẩm quyền, bảo đảm yêu cầu bảo vệ bí mật quân sự, quốc phòng, cơ yếu, hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ của Quân đội. Trên cơ sở đó, Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ và chủ động bố trí lực lượng, phương tiện bảo vệ DLCN; kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm trong phạm vi quản lý của mình.

PV: Nghị định cũng đề cập việc đánh giá kết quả công tác bảo vệ DLCN và ứng dụng công nghệ bảo mật tiên tiến. Theo đồng chí, nội dung này cần được hiểu và triển khai như thế nào trong thực tiễn?

Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng: Đánh giá kết quả công tác bảo vệ DLCN là một yêu cầu rất quan trọng, nhằm nhìn nhận đúng thực trạng, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân; kịp thời có biện pháp khắc phục. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Công an thực hiện việc đánh giá đối với các nội dung thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm nhiệm vụ của mỗi Bộ và bảo đảm thống nhất quản lý nhà nước của Chính phủ.

Trên cơ sở đánh giá, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm thúc đẩy việc áp dụng các biện pháp bảo vệ DLCN phù hợp, đồng thời nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ bảo mật tiên tiến trong xử lý và bảo vệ DLCN phục vụ hoạt động quốc phòng. Đây là yêu cầu khách quan trong bối cảnh khoa học, công nghệ phát triển nhanh chóng, nguy cơ cao mất an toàn DLCN.

PV: Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ DLCN trong Quân đội được đặt ra thế nào, thưa đồng chí?

Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng: Pháp luật chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được nhận thức đầy đủ và thực hiện nghiêm. Vì vậy, Điều 35 Nghị định số 356/2025/NĐ-CP quy định rõ trách nhiệm của Bộ Quốc phòng trong việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và trang bị kiến thức, kỹ năng bảo vệ DLCN cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ và lao động hợp đồng thuộc phạm vi quản lý.

Đây không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan pháp chế mà là trách nhiệm chung của các cấp ủy, chỉ huy, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ và các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong toàn quân. Thông qua tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, cán bộ, chiến sĩ phải hiểu rõ bảo vệ DLCN là yêu cầu pháp lý bắt buộc, đồng thời là biểu hiện cụ thể của ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm quân nhân trong môi trường số.

PV: Việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về bảo vệ DLCN trong lĩnh vực quốc phòng được pháp luật quy định ra sao?

Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng: Luật Bảo vệ DLCN và Nghị định số 356/2025/NĐ-CP quy định rõ: Bộ Quốc phòng có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm quy định về bảo vệ DLCN đối với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân thuộc phạm vi quản lý theo đúng quy định của pháp luật và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Việc xử lý vi phạm phải bảo đảm khách quan, toàn diện, nghiêm minh, đúng người, đúng hành vi, đúng thẩm quyền, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đáp ứng yêu cầu chính trị của Quân đội. Bởi lẽ, lộ, lọt hoặc sử dụng trái phép DLCN, nhất là dữ liệu liên quan đến quân sự, quốc phòng, cơ yếu không chỉ vi phạm pháp luật mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia, kỷ luật và uy tín của Quân đội.

PV: Đồng chí có thông điệp gì gửi tới các cơ quan, đơn vị và cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội về việc thực hiện các quy định này?

Thiếu tướng Nguyễn Việt Dũng: Tôi muốn nhấn mạnh rằng, bảo vệ DLCN trong phạm vi Bộ Quốc phòng quản lý là trách nhiệm chung của cả hệ thống, từ cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đến từng cán bộ, nhân viên, chiến sĩ. Mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp phải quán triệt đầy đủ các quy định của Luật Bảo vệ DLCN và Nghị định số 356/2025/NĐ-CP; mỗi cá nhân phải tuyệt đối tuân thủ, không thu thập, sử dụng, cung cấp, chia sẻ, xử lý DLCN trái phép hoặc vượt quá thẩm quyền.

Thực hiện nghiêm trách nhiệm bảo vệ DLCN là góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương Quân đội, bảo vệ bí mật quốc phòng, an ninh quốc gia và quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân; qua đó phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!