(tiếp theo) 

Chiến dịch có mật danh Lai-nơ-bếch-cơ II

QĐND Online - Thiếu tướng Vũ Thắng kể lại: "Năm 1960, tôi và một số đồng chí, trong đó có đồng chí Vũ Đình Hòe, sang Học viện Tình báo Liên Xô học. Ngoài kiến thức quân sự tổng hợp, chúng tôi được học rất kỹ về B-52. Về lý thuyết, các chuyên gia quân sự Liên Xô cũng đánh giá cao sức mạnh của B-52. Thời kỳ đó có một số người nghi ngờ khả năng tên lửa SAM-2. Họ không nghĩ SAM-2 có thể bắn “rụng” được B-52. Đến khi ta bắn rơi được B52, mời các chuyên gia tới xem xác máy bay, lúc ấy tất cả mới tin vào sức mạnh của SAM-2, của bộ đội tên lửa Việt Nam. Cái tài của bộ đội Phòng không – Không quân của ta là đã đưa ra một số cải tiến rất hợp lý; thêm vào đó, kỹ thuật phá nhiễu, định vị chính xác mục tiêu của PK-KQ đã khiến B-52 phải tan xác trên bầu trời miền Bắc".

Thiếu tướng Tống Trần Thuật. Ảnh: Nguyễn Hòa

Phân tích về thủ đoạn của đế quốc Mỹ, cũng như giải thích nguyên nhân tại sao Mỹ quyết tâm đánh phá miền Bắc, Thiếu tướng Tống Trần Thuật, thời điểm đó là Cục phó Cục 2, phụ trách công tác theo dõi, tổng hợp tin tức chiến lược, chiến dịch, chiến thuật báo cáo lên Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng và Quân ủy trung ương, cho biết: Trong thời gian đó (năm 1972), quân đội ta mở chiến dịch lớn ở Quảng Trị, có sự phối hợp của mặt trận Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Chúng ta đã giành thắng lợi rất lớn, gây cho địch thiệt hại nặng nề. Và địch cũng tìm mọi cách để đối phó quyết liệt với ta. Trong lúc này, cơ quan tình báo của ta nắm được nhiều nguồn tin về địch, trong đó có nguồn tin địch có kế hoạch dùng B-52 đánh vào Hà Nội. Lúc này, Trinh sát kỹ thuật của chúng ta cũng nắm được việc tập kết B-52 của địch ở đảo Gu-am. Từ những tin tức đó, Cục 2 đã báo cáo lên Bộ Tổng tham mưu, Bộ Quốc phòng và Quân ủy trung ương rằng: Địch có kế hoạch đánh B-52 vào Hà Nội.

Để đối phó với B52, từ rất sớm, tháng 7-1972, Bộ Tổng tham mưu đã mở một cuộc họp với Quân chủng Phòng không - Không quân bàn về cách đánh B-52. Cuộc họp do đồng chí Vương Thừa Vũ chủ trì. Bắt đầu từ đây, lưới lửa phòng không của chúng ta đã sẵn sàng đối phó với B-52.

Phân tích sâu về quyết định của Tổng thống Mỹ Ních-xơn khi ra quyết định cuối cùng: Tấn công Bắc Việt bằng B52, Thiếu tướng Tống Trần Thuật nhớ lại: Thắng lợi của ta ở Quảng Trị đã tác động rất lớn đến thế của ta ở Hội nghị Pa-ri. Thế đấu tranh chính trị của ta lúc ấy đang lên, tạo thế mạnh cho ta và khiến đối phương lúng túng. Trong khi đó, ở Mỹ đang chuẩn bị bầu Tổng thống. Ních-xơn tái ứng cử, cho nên muốn tìm mọi cách để xoa dịu dư luận Mỹ. Ông ta muốn tranh thủ dư luận, tranh thủ lá phiếu cử tri bằng cách cho tung tin, Hiệp định Pa-ri sắp được ký kết khiến nhiều cử tri Mỹ đã bị mắc lừa.
Ngày 13-12-1972, sau khi biết chắc chắn sẽ tái cử Tổng thống, cùng với việc tuyên bố hoãn các cuộc thương lượng, Ních-xơn tuyên bố: “Hành động duy nhất để đạt được mục đích là đẩy mạnh ném bom, buộc miền Bắc Việt Nam phải chấp nhận giải pháp do Mỹ đưa ra”.
Ngày 14-12-1972, sau khi hội kiến với Ních-xơn, Ngoại trưởng Mỹ Kít-xin-giơ gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta đe dọa: Nếu sau 72 giờ nếu Bắc Việt không quay lại Pa-ri tiếp tục đàm phán, Bắc Việt sẽ phải gánh chịu hậu quả nghiêm trọng”. Cùng ngày 14-12, Tổng thống Mỹ ra lệnh cho Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân lập kế hoạch sử dụng máy bay B52 đánh phá Hà Nội, chiến dịch có mật danh Lai-nơ-bếch-cơ II.
 

B52 tan xác - Mỹ sẽ nhất định thua

Quyết định trên cho thấy Mỹ đã tới bước đường cùng. Đúng như lời tiên đoán của Bác Hồ năm 1968: "Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ chuẩn bị... Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội".

Từng khoảnh khắc những ngày mùa đông năm 1972 như ùa về, Thiếu tướng Tống Trần Thuật kể tiếp: Tháng 7 năm 1972 ta tổng hợp tất cả các nguồn tin, từ tin cao sâu tới tin chiến thuật, từ trong nước đến ngoài nước để  tổng hợp thành một bản báo về ý định thực sự của Ních-xơn là: Ngoài việc muốn “vớt vát” vị thế của Mỹ trong cuộc đàm phán tại Pa-ri, cuộc tấn công lớn vào Hà Nội còn “giúp” ổn định tinh thần quân Ngụy và vực dậy chiến tranh ở Việt Nam qua đó gây sức ép mạnh đối với miền Bắc, buộc ta phải nhân nhượng; thay đổi những điều kiện bất lợi cho chúng tại hội nghị Pa-ri đã được trình lên cấp trên.

Một câu hỏi mà Cựu Cục trưởng Cục tình báo Trung ương Mỹ (CIA) William Colby đặt ra là, tại sao những lần Mỹ xuất quân, từ địa điểm, thời gian, đến số lượng máy bay… chúng ta đều biết rõ như vậy? Một phần câu hỏi này được Thiếu tướng Tống Trần Thuật và Thiếu tướng Vũ Thắng, những người trực tiếp được giao nhiệm vụ chỉ đạo nắm địch và tổng hợp tin tức cho biết: Ngay từ đầu năm 1972, qua tin tức từ cơ sở mật cao sâu trong lòng địch, tình báo quân sự đã phân tích đánh giá, dự báo với trên về âm mưu, ý đồ của Mỹ sẽ sử dụng máy bay B52 đánh phá Hà Nội.

"Con ngáo ộp" B-52 phải đền tội khi xâm phạm vùng trời Hà Nội, tháng 12-1972. Ảnh tư liệu

Cùng với tin tức tình báo chiến lược, lực lượng trinh sát kỹ thuật cũng thu thập và báo cáo tin tức về hoạt động của Không quân Mỹ được tiêu chuẩn hóa với độ tin cậy ngày càng cao. Do nắm được hoạt động của các loại máy bay chỉ huy EC121, EC130 đánh phá miền Bắc và Nam Vĩ tuyến 17; máy bay chỉ huy cấp cứu phi công HC130; máy bay trinh sát thời tiết RF4C, nên Trinh sát kỹ thuật đã nắm và thông báo trước nhiều giờ đối với những trận đánh quan trọng của Không quân Mỹ.
Trinh sát kỹ thuật đã nắm chắc hoạt động của các máy bay B52 thông qua hoạt động của tàu sân bay, các khu trục hạm dẫn đường. Tháng 7-1972, Trinh sát kỹ thuật đã phát hiện ra bộ quản lý đường bay, trong đó có quản lý đường bay B52, thông qua việc nắm được quy luật liên lạc của phi công B52 với đài chỉ huy…Chắp nối tất cả các thông tin thành một hệ thống, Trinh sát kỹ thuật đã xác định được hành trình của B52 từ lúc cất cánh đến khi thực hiện đánh phá xong, trở về căn cứ. Ngoài ra, bằng các biện pháp nghiệp vụ, tình báo ta đã nắm chắc sự di chuyển của các quan chức cấp cao của 3 tập đoàn Không quân Mỹ (số 7, số 8, số 13), từ các căn cứ của Mỹ ở Thái Lan, Phi-líp-pin và Nam Việt Nam; việc di chuyển của các máy bay cứu nạn…Những điều chỉnh lực lượng không quân và bảo đảm đi kèm… Mọi dấu hiệu đã giúp tình báo ta đưa ra nhận định chính xác: “Địch chuẩn bị có đợt hoạt động lớn của Không quân Mỹ ra ngoài Vĩ tuyến 20, chú ý Hà Nội, Hải Phòng”.

Thiếu tướng Tống Trần Thuật cho biết, tháng 7-1972, Bộ Tổng tham mưu và Tổng Quân ủy thấy tin tình báo là có cơ sở cho nên triệu tập ngay hội nghị để bàn về việc đối phó với B-52. Chính những tin tình báo được thông báo sớm đã giúp miền Bắc không bị bất ngờ, tạo điều kiện cho lực lượng PK - KQ đánh địch hiệu quả. Theo lời kể của Thiếu tướng Tống Trần Thuật, ngày 17-12-1972, Trinh sát kỹ thuật báo cáo: Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương điện cho Bộ Tư lệnh Không quân Mỹ, đình chỉ phép tất cả phi công. Phi công ở lại căn cứ chờ lệnh. 15 giờ 30 phút ngày 18-12-1972, Trinh sát kỹ thuật báo cáo: B52 đã cất cánh, dự kiến đánh vào miền Bắc. Các máy bay chỉ huy và chỉ huy cấp cứu làm nhiệm vụ trực chiến vào chiều và tối lần lượt đến vị trí quy định. Máy bay tiếp dầu KC135 từ căn cứ Clark đã cất cánh.

 “Cá” đang lao vào tấm “lưới phòng không” chờ sẵn. Ngay khi những chiếc máy bay B-52 đầu tiên bị ta tiêu diệt, chúng ta đã bắt sống được phi công. Cục 2 ngay lập tức phái một đội khai thác tù binh do Đại tá Mạc Lâm (lúc đó là Trung úy) phụ trách. Nội dung chính cần khai thác tập trung vào hỏi địch về đội hình của B-52; đường bay của B-52; độ cao của B-52; lực lượng không quân yểm trợ cho B-52; sử dụng kỹ thuật gây nhiễu nào…? Thông qua thẩm vấn tù binh, ta đã nhanh chóng nắm được những thông tin cần thiết, từ đó truyền đạt cho lực lượng PK - KQ. Trên cơ sở đó Quân chủng PK - KQ đã khắc phục được khó khăn của mình và giải quyết được những vấn đề về kỹ, chiến thuật, đối phó hiệu quả hơn với đối phương.

“Trong 12 ngày đêm, từng ngày một, ngày nào cũng vậy, Cục 2 đã thông báo đều đặn “lịch bay” của địch, bất kể chúng cất cánh từ Gu-am, hay U-ta-pao. Những thông tin của tình báo Quân sự đã tạo điều kiện cho Quân chủng PK - KQ luôn chủ động, sẵn sàng chiến đấu cao, chờ địch đến và đánh địch hiệu quả”, Thiếu tướng Vũ Thắng chia sẻ.

“Bật mí” một chút về nghiệp vụ của tình báo, Thiếu tướng Vũ Thắng cho biết: Trinh sát kỹ thuật đã triển khai kỹ thuật, nắm không quân của địch ở khu vực Thái Bình Dương. Biết chắc địch tập trung ở Gu-am là chủ yếu, nên mục tiêu của Trinh sát kỹ thuật là tập trung vào Gu-am. Ngày đêm theo dõi chặt chẽ, mỗi khi không quân địch phát ra tín hiệu là ta đã thu được tin tức rồi tổng hợp, xử lý và báo cáo cho các cấp. Có thể khẳng định, nguồn tin của Trinh sát kỹ thuật rất  chính xác và rất có giá trị, chính vì vậy, suốt 12 ngày đêm chiến dịch, tin của Trinh sát kỹ thuật cung cấp đều được trên tín nhiệm và là căn cứ để Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng của ta chiến đấu giành thắng lợi.

Về những bài học và kinh nghiệm rút ra, Thiếu tướng Tống Trần Thuật kể lại: Sau chiến dịch đó, Cục 2 đã tổng kết đánh giá kết quả và rút ra những bài học kinh nghiệm về nắm địch. Trong đó, tin của lực lượng Tình báo chiến lược là hết sức quan trọng, có tính dự báo cao giúp cho trên nắm sớm, nắm chắc âm mưu, ý đồ của địch. Tin của Trinh sát kỹ thuật rất chính xác, kịp thời phục vụ tốt cho công tác lãnh đạo, chỉ huy chiến đấu của Bộ Quốc phòng và các Quân, binh chủng. Có thể khẳng định, Trinh sát kỹ thuật đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đúng như đánh giá của trên. Qua chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972, Cục 2 cũng đề ra yêu cầu rất cao trong nắm địch, điều chỉnh hệ thống trang bị, phương tiện cho phù hơn hơn với chiến tranh hiện đại.

 

NGUYỄN HÒA

(Còn nữa)

Kỳ 1
Kỳ 2