Nava cho rằng Quân đội ta chưa đánh nổi một tập đoàn cứ điểm, một phần do không sử dụng được các vũ khí lớn, không giải quyết được vấn đề vận tải. Pháp quyết định tập trung phòng ngự Tây Bắc bằng các căn cứ không quân, lục quân ở Điện Biên Phủ, xây dựng Điện Biên Phủ thành một pháo đài mạnh, sẵn sàng tiêu diệt chủ lực ta.

Trước tình hình trên, ngày 6-12-1953, Tổng quân ủy báo cáo Bộ Chính trị quyết tâm và kế hoạch chiến dịch tiến công địch ở Điện Biên Phủ. Bộ Chính trị thống nhất kế hoạch và quyết định thành lập Đảng ủy, Bộ chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ; đồng thời thành lập Hội đồng Chi viện tiền tuyến Trung ương, hội đồng chi viện tiền tuyến liên khu, tỉnh, huyện...

leftcenterrightdel
Bộ đội và dân công mở đường từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu.

Vào năm 1953, đường cơ giới duy nhất lên Tây Bắc là Đường số 41, từ Hòa Bình qua Mộc Châu, Sơn La, Tuần Giáo, lên đến Lai Châu. Đường này đi qua những vùng địa hình hiểm trở, núi cao, suối sâu, lòng đường hẹp, cầu yếu, nhiều đoạn bị sụt lở. Từ Tuần Giáo đi vào Điện Biên Phủ không có đường ô tô, chỉ có đường cho ngựa thồ. Trong Chiến dịch Tây Bắc (năm 1952), ta mới mở rộng được một số đoạn để sử dụng ô tô. Sông Nậm Rốm chảy qua cánh đồng Mường Thanh (trong thung lũng Điện Biên), sông Nậm Na chảy từ biên giới Việt-Trung qua Lai Châu về Điện Biên Phủ là những sông nhỏ, nước chảy xiết, nhiều ghềnh thác, chỉ sử dụng được bè, mảng ở từng đoạn.

Từ sau Chiến dịch Tây Bắc, Trung ương Đảng, Chính phủ đã xúc tiến xây dựng kinh tế kết hợp với củng cố quốc phòng trên địa bàn Tây Bắc-căn cứ địa của cuộc kháng chiến và đồng bằng Khu 3, Khu 4. Đồng bào các dân tộc Tây Bắc vừa được giải phóng đã tham gia hàng triệu ngày công sát cánh cùng bộ đội và dân công miền xuôi trong "chiến dịch cầu đường". Riêng Đường số 13, từ Yên Bái đến Cò Nòi thường xuyên có 21.400 dân công. Khối lượng đào đắp lên tới gần 870.000m3 đất, đá và phải bắc tới 1.221m cầu. Với nỗ lực cao, chỉ trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 11-1953, bộ đội và nhân dân ta đã mở được một con đường mới dài 8km vượt qua nhiều đèo cao như: Lũng Lô, Phiềng Ban, Đèo Chẹn và nhiều suối sâu như: Ngòi Lạc, Ngòi Sập, Suối Tấc… Đường từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ dài 89km cũng được mở gấp. Trên con đường này, bộ đội và dân công đã chuyển từ các lòng suối lên mặt đường 18.000m3 đá, bắc 90 chiếc cầu lớn nhỏ, dùng 92.000m3 gỗ chống lầy.

Trong hơn 3 tháng chuẩn bị trực tiếp cho Chiến dịch Điện Biên Phủ (từ tháng 12-1953 đến đầu tháng 3-1954), các đơn vị công binh, dân công làm đường đã hoàn thành việc tu sửa và mở mới các con đường số 41, số 13, đường từ Tuần Giáo lên Điện Biên Phủ, là những trục chính của tuyến vận tải cơ giới. Đồng thời đã mở nhiều đường vào kho, vào các vị trí tập kết của bộ đội. Độ dài các đoạn đường được sửa chữa, mở mới là 300km. Đường cơ giới cho xe vận tải và kéo pháo hoạt động ở hỏa tuyến là 60km. Bên cạnh đó, bộ đội ta đã cải tạo và mở các tuyến đường sông, bảo đảm vận tải thủy. Các tuyến vận tải đường thủy gồm 3 luồng chính: Hai luồng ở phía đông và phía tây nam theo sông Hồng, sông Đà và sông Mã lên. Luồng thứ ba theo sông Nậm Na từ Lai Châu về Điện Biên Phủ. Để mở luồng, bộ đội công binh đã phải phá nhiều thác, trong đó có các thác lớn trên sông Nậm Na…

Công cuộc mở đường, sửa đường lên Điện Biên Phủ thắng lợi, thực sự phát huy vai trò "cầu đường đi trước một bước" đối với công tác vận tải. Đây là một trong những chiến công lớn của quân và dân ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Bác Hồ đã gửi thư khen cán bộ, chiến sĩ, đồng bào dân công trên mặt trận cầu đường.

DƯƠNG HÀ (Theo tài liệu của Tổng cục Hậu cần)