Đêm 2-10, tàu chạy vào gần và đánh tín hiệu lên bờ nhưng không có tín hiệu trả lời. Sau đó, thủy triều rút xuống nhanh, tàu bị mắc cạn. Trên bờ, gần đó là đồn Phước Hải đông đặc quân địch. Số phận con tàu 41 rơi vào tình thế vô cùng nguy hiểm. Đến 3 giờ đêm, khi nhận được tín hiệu, anh em ở căn cứ vội huy động lực lượng bốc dỡ hàng, đem vào bờ cất giấu, nhưng đến gần sáng vẫn chưa hết. Nếu tiếp tục chuyển hàng lên thì sẽ lộ. Theo lệnh của thuyền trưởng, tất cả thủy thủ lên bờ để giữ an toàn tính mạng. Song, Chính trị viên Đặng Văn Thanh và thợ máy Huỳnh Văn Sao xin ở lại để nếu tàu bị lộ thì điểm hỏa hủy tàu.

Được ở lại, hai người đốt hết giấy tờ, kéo lá cờ ba sọc lên để ngụy trang, rồi cài kíp nổ vào một tấn bộc phá để sẵn sàng điểm hỏa. Ngoài ra còn chuẩn bị thêm một phi xăng, đống vải màn để đốt trong trường hợp bộc phá không nổ. Chuẩn bị xong, hai người kéo lưới đánh cá ra đầy boong như tàu đánh cá bị mắc cạn.

Trời sáng, sự xuất hiện của tàu 41 khiến quân địch nhốn nháo theo dõi. 11 giờ trưa, máy bay do thám bay trên đầu hai người, sau một vòng lại bay vào. Nhận thấy nguy hiểm, trên bờ cho người ra thúc giục hủy tàu, song, hai đồng chí trên tàu trả lời: “Tàu còn chưa bị lộ, nếu hủy sẽ khiến địch nghi ngờ và có thể lộ cả tuyến vận tải vừa mới khai thông”.

11 giờ 30 phút, lại có 2 máy bay khu trục bay ra rất thấp, sau đó bổ nhào xuống sát cột buồm. Hai người trên tàu vẫn ngồi thản nhiên uống rượu, vá lưới. Phi công địch đoán đây là tàu cá mắc cạn nên lại bay vào. 1 giờ chiều, thủy triều bắt đầu lên nhanh, hai người trên tàu liền cho tàu chạy ra xa, đến khi chiều tối thì bắt đầu vào bờ. Thủy thủ và các chiến sĩ khu căn cứ vui mừng khôn tả, nhanh chóng bốc số đạn dược còn lại.

VĂN CHIỂN

(theo “Thủy hải chiến Việt Nam”-NXB Thanh niên)