Khi còn là chiến sĩ của đơn vị thông tin S03, mỗi lần vận động lên điểm cao 85 và điểm cao 137 làm nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ huấn luyện và diễn tập, tôi vẫn thường rùng mình. Tuy là núi đất, nhưng chúng lở lói nham nhở, cỏ lau, cây tạp mọc ken dày. Trên vai mang vác khí tài thông tin vô tuyến điện, chúng tôi nếu sơ sảy trượt chân là ngã dúi vì lở đất. Cỏ lau cứa, gai đâm vào da thịt đau điếng. Do địa hình hiểm trở, nên những người cộng sản ở Kiến An (Hải Phòng) chọn dãy núi này làm căn cứ hoạt động, treo cờ đỏ búa liềm tại đây, khiến thực dân Pháp rất tức tối. Nhân dân Kiến An thấy cờ búa liềm bay trên đỉnh núi, lòng càng dạt dào niềm tin ở cách mạng. Núi treo cờ được dân đặt tên núi Cột Cờ. Cũng tại chân núi Cột Cờ này, để chi viện cho chiến trường Tây Bắc-Điện Biên Phủ, quân và dân Kiến An đã tiêu diệt gọn một tiểu đoàn lính Âu-Phi của quân đội Pháp. Để ghi dấu chiến công trận núi Cột Cờ, quận Kiến An đã dựng bia nơi đây để giáo dục truyền thống cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Đơn vị thông tin S03 về tiếp quản khu đất xung quanh núi Cột Cờ từ hàng chục năm nay. Trong phong trào xây dựng doanh trại xanh, sạch, đẹp, những người lính thông tin ngày đêm âm thầm làm việc, ngoài những ca trực bảo đảm thông tin kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn, còn dành nhiều thời gian để cải tạo khu đất hoang hóa này. Những sân bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, bãi tập thể lực được xây dựng. Rồi vườn hoa, cây cảnh, đường đi lại giữa các cơ quan, các phân đội được quy hoạch, bê tông hóa, tạo khuôn viên xanh, môi trường trong lành. Trung tá Ngô Văn Vọng, Chủ nhiệm chính trị đơn vị bảo tôi:
- Việc củng cố doanh trại, xây dựng môi trường văn hóa trong đơn vị phải làm từng bước, được đến đâu, vững chắc đến đấy. Cái được cơ bản nhất của đơn vị là tạo được phong trào. Lễ tiết, tác phong, lời ăn tiếng nói của bộ đội có sự chuyển biến rõ rệt. Đơn vị đã thực sự xanh, vườn hoa, cây cảnh trước cửa nhà, phân đội nào cũng có. Tùng, vạn tuế, cau vàng, những dò phong lan, cây thế đặt trên những chậu đủ kiểu loại, phong phú. Mà chậu cây, tường rào cũng do bộ đội tự làm bằng vật liệu có sẵn trong đơn vị hoặc mua với giá rẻ...
Trung tá Vọng là một trong những cán bộ có thâm niên công tác ở đơn vị S03. Lúc tôi là chiến sĩ thì anh đã là phó đại đội trưởng về chính trị (nay là chính trị viên). Vì thế, anh chứng kiến nhiều sự kiện, những đổi thay trên vùng đất này. Gặp lại anh, chúng tôi nhớ về những kỷ niệm thời gian khó của đơn vị. Dạo ấy, mỗi cán bộ, chiến sĩ ngoài làm nhiệm vụ chuyên môn còn phải tham gia lao động xây dựng đơn vị. Chỉ tiêu hằng tháng mỗi người phải đóng 300 viên gạch mộc hoặc cùng đơn vị tham gia lao động giúp dân xây dựng hệ thống điện, đào mương, vượt đất đắp đê... Có đơn vị quan hệ tốt với chính quyền địa phương, mượn được vài mẫu ruộng, thế là bộ đội cũng cày, cấy lúa, thu hoạch. May ở đơn vị thông tin có nhiều chiến sĩ nữ, nên việc cấy lúa rất thẳng hàng và nhanh như bà con địa phương. Đại đội tôi ngày ấy còn mua được tấm lưới đánh cá, kích thước rất dài, rộng, gọi là lưới vét. Ngoài giờ huấn luyện, chúng tôi thay nhau đi dọc sông, hồ trên khu vực địa bàn đóng quân để đánh bắt cá và các loại thủy sản khác. Thủy sản đánh bắt được đưa vào nhà bếp chế biến, cải thiện bữa ăn hằng ngày cho bộ đội. Tấm lưới vét ấy đã được ghi lại trong cuốn Biên niên sự kiện của đơn vị, như đánh dấu một thời khó khăn, tự lo tăng gia, sản xuất. Phong trào tăng gia ở đơn vị mạnh đến nỗi, phiên hiệu đơn vị S03 bị đọc chệch thành "máu tăng gia"...
Không có tăng gia thì không thể cải thiện đời sống bộ đội. Bao thế hệ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị đều xác định rõ vai trò quan trọng của tăng gia sản xuất. Nhưng không thể để tăng gia tự phát mà cần có sự chỉ đạo thống nhất của đơn vị, từ trên xuống. Ngoài tăng gia quanh bếp, quanh vườn, đơn vị còn xây dựng khu tăng gia sản xuất và trạm chế biến tập trung với quy mô cung cấp đủ lượng lương thực, thực phẩm, rau xanh cho các đơn vị. Nhưng làm thế nào cho hiệu quả? Đấy là câu chuyện mở đầu của trung tá Nguyễn Thanh Phương, Chủ nhiệm hậu cần đơn vị. Bây giờ thì khu tăng gia tập trung dưới chân núi Cột Cờ đã hình thành, rau xanh không chỉ cung cấp đủ cho cơ quan đơn vị bộ và các phân đội, mà rau xanh còn được bán ra thị trường quận Kiến An. Rau bộ đội trồng ngon, sạch, giá cả phải chăng, nên những chủ rau ở Kiến An vào đơn vị đặt mua tại chân ruộng.
Khu tăng gia tập trung của đơn vị nằm giữa điểm cao 85 và điểm cao 137 của dãy núi Cột Cờ, diện tích hơn mười nghìn mét vuông. Đây là khu đất quốc phòng được Bộ tư lệnh Quân khu 3 giao cho đơn vị quản lý. Khi trên cho phép đơn vị lập khu tăng gia tập trung ở đây, Ban hậu cần đơn vị đôn đáo làm dự án, kế hoạch cải tạo đất. Nhìn đất đồi cằn, cây cối rậm rạp, cỏ lau ken dày, ai nấy đều ngại ngần về tính khả thi và hiệu quả của dự án. Trung tá Phương bảo tôi:
- Ban đầu, tôi cũng lo lắm vì chưa có kinh nghiệm. Vốn đã vay của Quân khu rồi, liệu có bảo toàn và trả nợ được không? Rất may, Cục Hậu cần quân khu tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm xây dựng khu tăng gia sản xuất tập trung, chúng tôi được dự và tham quan, học tập cách làm của Đoàn bộ binh B95, của đơn vị 50 (Bộ chỉ huy quân sự thành phố Hải Phòng). Chúng tôi tham khảo kinh nghiệm, cách làm của các Đoàn bộ binh B25 (Binh đoàn Hương Giang), Đoàn Sao Vàng (Quân khu 1)... thông qua tài liệu của Tổng cục Hậu cần phổ biến. "Có sức người, sỏi đá cũng thành cơm". Chúng tôi xây dựng quyết tâm, ra nghị quyết lãnh đạo ở các cấp bộ Đảng, rồi động viên bộ đội lao động, tập trung sức lực và đầu tư cải tạo đất. Chủ trương đúng nên bộ đội hưởng ứng tích cực. Khu tăng gia sản xuất tập trung của đơn vị hình thành...
Thiếu úy chuyên nghiệp Nguyễn Văn Dũng, cán bộ của Ban hậu cần phụ trách Tổ tăng gia sản xuất tập trung hướng dẫn chúng tôi tham quan từng khu vực: Khu trồng rau xanh cao cấp, khu trồng rau leo, giàn quả lủng lẳng, khu chăn nuôi lợn, bò, dê và ao cá. Dũng cho biết, khu tăng gia sản xuất tập trung mới hoàn chỉnh vào tháng 3-2006. Tôi nhẩm tính, mới hơn mười tháng, mà khu tăng gia sản xuất được quy hoạch gọn gàng, đâu vào đấy. Cây ăn quả, rồi rau đã leo xanh giàn, rau xanh đã thu hoạch mấy đợt, sản phẩm không chỉ phục vụ đơn vị mà còn đưa ra thị trường...
Thấy tôi tần ngần, Dũng bảo:
- Thực ra, khu tăng gia sản xuất tập trung này đã hoạt động từ mấy năm trước rồi. Bộ đội cải tạo đất được đến đâu, anh em gieo trồng, sản xuất ngay đến đó. Rau gối vụ, cây ăn quả trồng xen. Hiện chúng tôi đã trồng được hơn hai nghìn mét vuông cam, bưởi, xoài, chuối, măng bát độ. Khoảng tám nghìn mét vuông đất trồng rau. Đơn vị dồn công sức đắp đập, ngăn nước, cạp bờ tạo được ao cá rộng năm nghìn mét vuông...
Để có khu tăng gia sản xuất tập trung, đơn vị đã sử dụng hơn ba trăm ca máy xúc. Sức máy, sức người tập trung bóc đi mười nghìn khối đất đá, nạo vét lòng hồ, rồi đưa hàng chục chuyến xe ô-tô vận tải chở đất màu về. Rồi phát động trong các phân đội tham gia cải tạo đất bằng trấu, mùn màu, làm phân xanh...
Để làm rõ hơn về công việc của tổ tăng gia sản xuất, Chủ nhiệm hậu cần Phương bổ sung:
- Rau xanh đơn vị giải quyết ổn rồi, nhưng còn thực phẩm, chúng tôi vẫn còn phải phấn đấu. Hiện tại, đơn vị mới bảo đảm tự túc được 80% thực phẩm đưa vào các bếp ăn. Như vậy, vẫn còn 20% phải mua từ thị trường. Do ảnh hưởng dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm, long móng trên gia súc, nên giá thực phẩm ngày càng tăng. Để thay đàn gia cầm, chúng tôi đầu tư nuôi thỏ. Đàn lợn, đàn bò, đàn dê được theo dõi, chăm sóc rất cẩn thận. Các thành viên tổ tăng gia sản xuất được lựa chọn chu đáo, cho đi tập huấn ở Trường trung học Lâm-ngư nghiệp Sóc Sơn (Hà Nội). Đơn vị còn mời cán bộ kỹ thuật ở Trung tâm giống cây trồng Kiến An (Hải Phòng) đến hỗ trợ kỹ thuật, phổ biến kiến thức trồng cây, cách lựa chọn giống cho năng suất cao. Có khu tăng gia sản xuất tập trung đưa vào khai thác, kết hợp với tăng gia quanh bếp, quanh nhà, quanh tổ đài, trạm thông tin mà năm 2006, tính bình quân toàn đơn vị, sản lượng tăng gia đạt hơn 3 triệu đồng mỗi người một năm. Có nơi như ở Trạm T3 thuộc đại đội 5, phân đội 26, sản lượng tăng gia đạt bình quân mỗi năm tới 5 triệu đồng một người.
Từ trước cửa doanh trại đại đội 9 thuộc phân đội 69 nhìn ra núi Cột Cờ, tôi thấy ngút mắt màu xanh. Chính trị viên phân đội 69, thiếu tá Vũ Đình Ban giới thiệu:
- Đại đội 9 là đơn vị điển hình về chăn nuôi không chỉ của phân đội mà của cả đơn vị. Ngoài đàn lợn ba mươi con, đại đội còn nuôi hơn ba trăm con thỏ lấy thịt, mới khôi phục lại đàn gà hơn hai trăm con. Đây là đại đội rất mạnh dạn trong đổi mới cơ cấu vật nuôi, vay vốn của đơn vị và huy động vốn của anh em để mua con giống chăn nuôi. Phong trào nuôi thỏ trong đơn vị cũng từ đại đội 9 mà ra...
Ban có trí nhớ rất tốt và sâu sát với công việc. Nhập ngũ cùng tôi, nhưng Ban được cử đi đào tạo tại Trường sĩ quan Chính trị-Quân sự ở Bắc Ninh (nay thuộc Học viện Chính trị-Quân sự). Tốt nghiệp, Ban trở lại đơn vị cũ công tác. Tôi đi học ngành kỹ thuật, nhưng rồi lại chuyển sang làm báo.
Gặp lại tôi sau gần hai mươi năm tại đơn vị cũ, Ban mừng lắm. Ban bảo:
- Đêm nay, dứt khoát ông ở lại đây với tôi, để "nắm cơ sở". Tôi sẽ chiêu đãi món thỏ rô-ti, thỏ sốt vang... Tóm lại các món từ thỏ do đơn vị tăng gia được!
Nói rồi tôi và Ban nhớ về thời ở chung đại đội. Hai thằng đi kéo lưới vét. Tôi một đầu, Ban một đầu. Ngâm nước mấy giờ hai thằng rét run, đầu ngón tay, ngón chân thâm lại. Ngày ấy, chúng tôi ăn cơm độn hơn nửa phần là mì sợi hoặc hạt bo bo. Vì thế, ngâm nước mấy tiếng đói mềm người. Lên bờ, Ban vơ vội rơm rạ khô thành đống nhỏ rồi châm lửa. Rét hanh, lửa sưởi ấm chúng tôi nhưng làm cho da càng thêm rát nẻ. Tôi chọn mấy con tôm to đem nướng. Ban ngăn lại bảo để đưa vào nhà bếp cho anh em. Tôi vốn đói thì không chịu nổi, cứ lấy tôm đem nướng. Mùi tôm nướng chín ngậy tỏa ra khiến Ban phải nuốt nước miếng, còn tôi ăn ngon lành. Hôm ấy, Ban về báo cáo lại sự việc với trung đội trưởng. Tất nhiên tôi bị phê bình, một phần vì không chấp hành quy định quản lý sản phẩm tăng gia, phần khác là không chú ý giữ gìn vệ sinh ăn uống để bảo đảm sức khỏe học tập, công tác.
- Ông còn nhớ cái Thúy, cái Huyền, cái Nguyệt, cái Băng... không? - Ban hỏi tôi, rồi tự trả lời - Bây giờ họ vẫn công tác ở đơn vị này, chuyển chế độ quân nhân chuyên nghiệp cả rồi. Họ ở khu gia đình gần đây thôi. Ông bố trí thời gian, tối ta ra thăm họ.
Khi đến trạm T3, gặp trạm trưởng Đinh Chí Nam. Tôi bất ngờ vì chính Nam là chồng của Băng, báo vụ viên Tổng trạm 16 cùng thời với tôi. Không chỉ bảo đảm tốt cung đường dây An Lão, Nam còn được Bộ tư lệnh Quân khu 3 tặng bằng khen về thành tích tăng gia sản xuất giỏi. Còn Trần Bích Huyền, tôi hay gọi trêu Huyền "đốm" vì cô có vết chàm to trên mi mắt. Huyền là nhân viên bảo mật của đơn vị, nốt chàm đã được "tẩy" sạch hẳn. Huyền lấy chồng cùng đơn vị-anh Khanh, giáo viên điện báo đang công tác cùng phân đội 69 với Ban. Hai vợ chồng chi tiêu dè xẻn đồng lương, tiết kiệm gần chục năm, đủ tiền mua được mảnh đất nhỏ ở quận Kiến An. Vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc và đã có đứa con trai 12 tuổi...
Trở về sở chỉ huy đơn vị, bất ngờ tôi gặp Huyền ở cổng. Huyền nở nụ cười chào tôi. Sau xe đạp là bó rau cải to đùng. Rau tăng gia, bộ đội ăn không hết, chia về cho các hộ gia đình. Huyền chỉ vào bó rau, bảo tôi: "Rau sạch thật đấy, không phải lo vì có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật như mua ở chợ đâu"...
ĐÌNH XUÂN