Lê Lai là một danh tướng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi chủ xướng. Quê ông là xã Dựng Tú, huyện Thuỵ Nguyên, tỉnh Thanh Hóa (nay là huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Có tài liệu nói ông là người làng Dựng Tú (huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa). Ba người con của ông là Lê Lô, Lê Lộ, Lê Tâm và người anh cả Lê Lãn đều là tướng soái quan trọng của nghĩa quân Lam Sơn. Ông được xếp vào hạng thứ 3 trong số 18 công thần dự hội thề Lũng Nhai.

Năm 1416, tại Lũng Nhai (Lam Sơn) Lê Lai cùng Lê Lợi và 17 tướng lĩnh tâm phúc thề cùng nhau sống chết chống lại giặc Minh xâm lược đang ngày đêm giày xéo quê hương, đất nước. Sau hội thề Lũng Nhai, ông được trao chức Đô Tổng quan (tước quan Nội hầu) chiến đấu dưới cờ của Lê Lợi. Nghĩa quân xây dựng miền rừng núi Lam Sơn, Thanh Hóa thành căn cứ để tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Do tương quan lực lượng nên cuộc chiến trong giai đoạn đầu chủ yếu là du kích, nhằm chống lại các cuộc vây quét của địch. Quân Minh dựa vào ưu thế binh lực, huy động những lực lượng lớn - có khi hàng chục vạn quân, để bao vây, càn quét hòng tiêu diệt cuộc khởi nghĩa vừa nhen nhóm. Trong thế trận không cân sức buổi đầu, nghĩa quân Lam Sơn đã phải chịu đựng muôn vàn khó khăn, gian khổ hy sinh; vượt qua nhiều thử thách hiểm nghèo. Đã bao lần nghĩa quân bị vây hãm ở núi Chí Linh (Thanh Hóa) và Khôi Huyện (Ninh Bình) rơi vào cảnh quân hao, lương cạn...

... Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần

Khi Khôi Huyện quân không một đội.

(Nguyễn Trãi - Đại cáo bình ngô)

Hoặc: … Đến như phá vòng khốn quẫn, tạo cuộc hanh thông. Chín phần tử, một phần sinh, tuy ở chốn hiểm nghèo mà còn ngất trời khí thế…”.

(Nguyễn Mọng Tuân-Phú núi Chí Linh)

Vào khoảng tháng 3 năm 1419, nghĩa quân Lam Sơn bị quân địch bao vây lần thứ hai ở núi Chí Linh. Vòng vây quân Minh ngày càng khép chặt, lương thực của nghĩa quân đã hết sạch “Hơn 10 ngày chỉ ăn củ nâu và mật ong, người, ngựa đều khốn đốn…” (Đại nam thông sử, Đế kỷ). Mọi con đường liên lạc với bên ngoài bị cắt đứt. Lực lượng cũng ngày một hao mòn.

Trong thế bị vây hãm khốn đốn nghĩa quân có nguy cơ bị tiêu diệt, Lê Lợi họp Bộ tham mưu bàn kế giải nguy. Ông nói rằng: “Bây giờ ai có thể làm như Kỷ Tín ngày xưa để ta ẩn náu trong rừng núi, mưu tính cử sự về sau” (Việt sử thông giám cương mục, quyển 13, tr.8).

Thấu hiểu ý đồ chiến lược của Lê Lợi, Lê Lai đã khảng khái xin nguyện hy sinh để cứu minh chủ, giải vây cho nghĩa quân Lam Sơn. Liền sau đó, Lê Lai cải trang làm Lê Lợi, lĩnh 500 quân và hai con voi chiến, tự xưng là Chúa Lam Sơn kéo ra tập kích địch. Quân Minh tập trung lực lượng vây đánh đội nghĩa binh dũng cảm đó và bắt được Lê Lai.

Điều đáng khâm phục, ngợi ca hơn là Lê Lai không cam chịu bó tay hàng giặc mà ông đã chỉ huy đội cảm tử quân chiến đấu đến phút cuối cùng mới chịu rơi vào tay giặc. Ông bị giải về thành Đông Quan và bị xử bằng những hình phạt vô cùng tàn ác.

Tưởng rằng thủ lĩnh Lê Lợi đã bị bắt, bị giết và lực lượng khởi nghĩa đã hoàn toàn bị đánh bại, quân Minh bỏ núi Chí Linh kéo về Tây Đô (thành nhà Hồ, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn nhờ đó có cơ hội xây dựng lại lực lượng để tiếp tục hoạt động.

Trước tinh thần nghĩa liệt quên mình cứu chúa của Lê Lai, Lê Lợi đã cảm khái cầu khấn với trời đất rằng: “Lê Lai vì đại nghĩa mà xả thân, tôi thề ngày sau chẳng quên ơn ấy, nếu nuốt lời thề thì cung điện thành rừng núi. Ấn báu thành đồng, gươm thần thành đao”.

Nhớ công ơn Lê Lai, sau khi kháng chiến thành công, lên ngôi vua, Lê Lợi đã truy tặng ông là “Đệ nhất công thần”, và giao cho Nguyễn Trãi soạn thảo hai đạo: “Tiên ước thệ từ”, “Lai Công thệ từ” cất giấu trong tủ vàng để mãi mãi ghi nhớ công lao Lê Lai.

Cái chết của Lê Lai là một trong những cái chết trở thành bất tử. Cái chết đó đã mở con đường sống cho nghĩa quân Lam Sơn để làm nên những trang sử chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc.

Hà Nguyễn