Một số thư tịch cổ cho biết rằng, ca múa nhạc đã trở thành những hoạt động văn hóa quan trọng ở Thăng Long từ thời Lý. Vua Lý Thái Tông đã ban chiếu tuyển lựa ca nữ, nhạc công trong dân gian và thành lập Ban nhạc trong cung đình đông tới hơn một trăm người. Có thể nói, đó là “Đoàn ca múa quốc gia” đầu tiên của nước ta. Các vua Lý tiếp theo đã duy trì và làm phát triển Ban nhạc cung đình. Trong triều, có những quan trông coi việc này, gọi là Linh nhân. Những điệu ca, nhạc dân tộc có từ lâu đời được phát triển, nâng cao thêm. Cuối thời Lý, các nhạc công trong triều đình còn dựa theo điệu nhạc Chiêm Thành mà tạo nên khúc Chiêm Thành âm nghe rung động lòng người. Việc này, Đại Việt sử ký toàn thư có chép: “... tiếng nhạc trong trẻo, ai oán buồn rầu, nghe phải chảy nước mắt”...

Nghệ thuật hát chèo, trong dân gian, đã có trước thời Lý, đến thời Lý thì được phổ biến ở Thăng Long. Trong các cuộc vui, ngày Tết, ngày hội, lễ, đều có phường chèo giúp vui. Sang thời Trần thì hát chèo trở thành sinh hoạt đầy vui thú và hàng ngày được tổ chức trong các nhà quyền quý. Có điều đáng chú ý là, những nhà quyền quý tổ chức phường chèo biểu diễn, nhưng dân chúng có thể đến xem tự nhiên. Việt sử thông giám cương mục viết rằng, trong nhà tướng Trần Nhật Duật không ngày nào không có yến tiệc, hát chèo. Các bài hát chèo thời đó đã mang nội dung châm biếm, đả kích thói hư tật xấu. Và khi đó, đã xuất hiện hình thức chèo nữa, là chèo bội.

Trong sách Vũ Trung tùy bút, Phạm Đình Hổ mô tả: Triều nhà Trần, hễ có quốc tang, lúc sắp rước quan tài đến sơn lăng để an táng, dân cư ngoài phố phường xúm lại xem vòng trong vòng ngoài chật ních cả chốn điện đình, không thể rước đi được. Người dẹp đám đã phải bắt chước lối vãn ca đời cổ đặt ra khúc hát Long ngâm, sai đi hát diễn xung quanh đường phố. Dân chúng liền đổ đi theo để xem. Khi đó mới rước quan tài đi được. Đời sau đã bắt chước lối hát vãn, hàng năm đến rằm tháng bảy, những tang gia cho gọi phường hát đến hát để giúp tế lễ. Tiếng hát bi ai cảm động, tục gọi đó là phường chèo bội.

Có thể nói, từ khi Lý Thái Tổ định đô ở Thăng Long, gần ba trăm năm tiếp theo, nghệ thuật ca múa nhạc rất phát triển. Cũng thời kỳ này, nảy sinh cái lệ các vương hầu chiếm đoạt các đào đẹp, người hát hay về làm vợ. Và, câu chuyện nổi tiếng nhất trong lịch sử nhà Trần về việc này, là chuyện cung túc Vương Trần Nguyên Dục cướp vợ của người kép hát Dương Khương. Vợ Dương Khương khi diễn tuồng đóng vai Tây Vương Mẫu, nên cũng có hiệu là Vương Mẫu. Khi Trần Nguyên Dục cướp Vương Mẫu về thì bà đã có thai. Đến khi sinh ra Nhật Lễ, Trần Nguyên Dục nhận là con mình. Năm 1369, Nhật Lễ được lên làm vua. Sau, Nhật Lễ rượu chè, rong chơi, còn muốn đổi lại là họ Dương. Chỉ được một năm, Nhật Lễ bị phế.

Cũng đến cuối thời Trần, sinh hoạt ca múa nhạc ở Thăng Long có một dấu mốc lớn: Triều đình đã cho chia âm nhạc thành hai loại, “đại nhạc” và “tiểu nhạc”. “Đại nhạc” được thể hiện bằng các nhạc cụ: trống cơm, tiêu, sáo, não bạt, mõ lớn. “Đại nhạc” chỉ dùng riêng cho vua. Các tôn thất, đại thần, nếu không phải việc tế lễ cũng không được dùng nhạc này. Nhạc cụ dùng trong “Tiểu nhạc” gồm đàn tỳ bà, đàn tranh, đàn bảy dây, đàn cầm, đàn hai dây và tiêu. Nhạc này dùng rộng rãi cho mọi tầng lớp xã hội.

Đến đời Lê, vua Lê Thái Tông rất chú ý đến nghệ thuật ca múa nhạc và tuồng chèo. Năm 1437, nhà vua sai các đại thần hiệu đính và quy định lại nhã nhạc. Nguyễn Trãi được giao việc làm nhạc khí và dạy tập nhạc múa. Khi làm xong, Nguyễn Trãi có tâu rằng: “... Không có gốc thì nhạc không vững, không có văn thì không thể lưu hành. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc... xin bệ hạ yêu nuôi muôn dân để chốn xóm thôn không còn tiếng oán hận lầm than, như thế mới không mất cái gốc của nhạc...”, Lê Thái Tông khen và tiếp nhận. Thời đó, cũng cho mô phỏng nhạc vụ của nhà Minh (Trung Quốc) mà chế thêm nhạc cụ mới. Trong các ngày đại lễ, ở Thăng Long thường được múa các điệu Bình Ngô phá trận, điệu Chư hầu đến chầu... và, ca múa nhạc thời kỳ này đã mang khí phách quốc gia. Từ thời Hồng Đức trở đi, đã bắt đầu có sự phân chia cách biệt giữa âm nhạc trong cung đình và âm nhạc ngoài dân gian. Nhóm đại thần của vua Lê Thánh Tông, như Thân Nhân Trung, Lương Thế Vinh, sau năm 1470, đã nghiên cứu âm luật cổ kim, trong ngoài, mà đặt ra hai bộ “Đồng văn” và “Nhã nhạc”, một bộ chuyên tập âm luật để hòa nhạc, một bộ chuyên chuộng thanh, trọng về tiếng hát. Cả hai bộ đều do quan Thái thường trông coi. Còn âm nhạc dân gian thì đặt Ty giáo phường coi sóc. Như vậy, có thể coi đó là cơ sở ban đầu của tổ chức ca múa nhạc ở trung ương và tổ chức ca múa nhạc không chuyên ở các giáo phường.

Tiến trình của ca, múa, nhạc, sân khấu là vậy, bởi dân gian mà có, sau dẫu phát triển nâng cao đến mấy, rồi cũng chỉ có thể sống bền lâu trong dân gian. Đẹp thay, sân khấu ca múa nhạc ở Thăng Long ta xưa, thực sự là hồn phách của dân ta!

ANH CHI