Bài học lịch sử và đòi hỏi khách quan 

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trong phần đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, đã thẳng thắn chỉ rõ: Công tác cán bộ còn một số bất cập, trước hết là khâu đánh giá cán bộ; kiểm soát quyền lực và quản lý cán bộ cấp chiến lược có mặt còn hạn chế...

Kiểm soát quyền lực là hệ thống các giải pháp, quy trình và cơ chế, trọng tâm là công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát... nhằm theo dõi, đánh giá, ngăn chặn sự tha hóa, độc đoán, lạm quyền, vi phạm kỷ luật đảng và pháp luật Nhà nước trong đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị các cấp. Mục đích cao nhất của kiểm soát quyền lực là để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh; để đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp, thực sự là công bộc của dân như lời Bác Hồ dạy.

Nhìn lại hai nhiệm kỳ Đại hội XII và Đại hội XIII của Đảng, chúng ta thấy rõ, với tinh thần kiên trì, quyết liệt, việc kiểm soát quyền lực gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã đạt được những kết quả mang tính đột phá. Tuy nhiên, việc kiểm soát quyền lực và quản lý cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược vẫn còn những hạn chế nhất định. Những đánh giá được nêu trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng mang tính khách quan, thể hiện tinh thần cầu thị, thẳng thắn nhìn vào sự thật để xây dựng quyết tâm chính trị chiến lược của Đảng. Công tác quy hoạch cán bộ, đánh giá cán bộ và kiểm soát quyền lực có mối quan hệ biện chứng, thống nhất trong một chỉnh thể. Vì vậy, quá trình kiểm soát quyền lực không thể tách rời khỏi công tác cán bộ, nhất là khâu quy hoạch, quản lý, đánh giá cán bộ. Lựa chọn, quy hoạch cán bộ đúng, quản lý tốt, đánh giá thực chất thì kiểm soát quyền lực sẽ hiệu quả. Ngược lại, bất cứ một khâu nào làm sai, sẽ gây hệ lụy đến cả hệ thống.

 Tranh minh họa. Nguồn: hoinhabaovietnam.vn 

Cần thấy rằng, yêu cầu kiểm soát quyền lực và những hạn chế trong lĩnh vực này không phải đến Đại hội XIV Đảng ta mới đặt ra, mà nó là vấn đề mang tính lịch sử, tồn tại xuyên suốt trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp của mọi quốc gia, dân tộc. Đất nước càng phát triển, xã hội càng tiến lên văn minh, hiện đại thì mục tiêu, yêu cầu kiểm soát quyền lực càng đặt ra cao hơn, toàn diện hơn. Trong xã hội hiện đại, quyền lực trong bộ máy cầm quyền có sức hấp dẫn lớn. Nếu không có cơ chế giám sát, kiểm soát đủ mạnh và hiệu quả, lợi ích mà quyền lực mang lại sẽ là tác nhân khiến một bộ phận không nhỏ cán bộ rơi vào chuyên quyền, độc đoán, tham nhũng, lợi ích nhóm, tha hóa đạo đức, có hại cho đất nước. Mức độ nguy hại sẽ tăng lên gấp bội, gây hệ lụy khôn lường nếu tha hóa quyền lực xảy ra trong đối tượng cán bộ cấp chiến lược. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII và Đại hội XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần sử dụng cách nói hình tượng “Nhốt quyền lực trong chiếc lồng cơ chế” để khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của kiểm soát quyền lực và quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước ta trong lĩnh vực này. Đảng ta đã dũng cảm, thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ và đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực một cách đồng bộ, hiệu quả hơn trong nhiệm kỳ mới. Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực gắn với kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Từ Đại hội XIV, yêu cầu kiểm soát quyền lực đặt ra rất cao và có nhiều điểm mới mang tính đột phá, đòi hỏi chúng ta phải không ngừng hoàn thiện, nâng cao cơ chế giám sát với hệ thống giải pháp mang tính khoa học, thực tiễn. Trong tổng thể các giải pháp, việc xây dựng, khuyến khích một hệ sinh thái phản biện chính là một trong những phương thức kiểm soát quyền lực, ngăn chặn suy thoái, tiêu cực từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát. Cùng với những công cụ mang tính pháp lý như thanh tra, kiểm tra, giám sát, điều tra, xử lý..., phản biện chính là kênh thông tin giúp chúng ta nhận diện sớm những biểu hiện lệch lạc trong tư duy, tư tưởng của cán bộ, đảng viên; giúp các quyết định quan trọng được soi chiếu đa chiều, hạn chế chuyên quyền, độc đoán, chủ quan, duy ý chí...

Nhìn lại 40 năm đổi mới, chúng ta thấy rõ dấu ấn của phản biện gắn liền với những dấu mốc quan trọng của đất nước, đặc biệt là giai đoạn chuẩn bị và triển khai đường lối đổi mới từ Đại hội VI của Đảng. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế-xã hội những năm đầu thập niên 1980, nhiều ý kiến phản biện xuất phát từ thực tiễn cơ sở đã mạnh dạn chỉ ra những bất cập của cơ chế quản lý cũ, đòi hỏi phải có cách nghĩ, cách làm mới mang tính đột phá. TP Hồ Chí Minh với vai trò “đầu tàu”, đã mạnh dạn, dũng cảm thoát ra và vượt lên cung cách quản lý cũ, thể nghiệm thành công những mô hình mới về kinh tế thị trường. Sự đột phá, “vượt rào” ấy bắt nguồn từ tư duy phản biện, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong đội ngũ lãnh đạo chủ chốt của thành phố lúc bấy giờ. Những cách làm linh hoạt trong quản lý kinh tế, lưu thông chuỗi cung ứng sản xuất, kinh doanh là kết quả của tư duy phản biện xuất phát từ yêu cầu bức thiết, cấp bách của thực tiễn. Chính những bước đi đột phá ấy đã góp phần hình thành đường lối đổi mới được Đại hội VI khởi xướng, mở ra giai đoạn phát triển mới cho đất nước.

Lịch sử đã chứng minh, trong những bước ngoặt trọng đại của dân tộc, trước khi ban hành quyết định chính thức, cha ông ta luôn có những “Hội nghị Diên Hồng” để lắng nghe ý kiến đề xuất, phản biện, hiến kế từ các tầng lớp nhân dân. Chỉ khi quy tụ lòng dân về một mối, sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc mới được phát huy cao nhất, giúp sự nghiệp cách mạng thành công. Từ những bài học lịch sử và yêu cầu mới đặt ra, chúng ta thấy, khi phản biện được khuyến khích thực hiện trên tinh thần thượng tôn pháp luật và xuất phát từ lợi ích chung, sẽ giúp Đảng, Nhà nước điều chỉnh, hoàn thiện chủ trương, quyết sách, tránh được những sai lầm mang tính hệ thống. Coi trọng phản biện để kiểm soát quyền lực, vì thế, là một yêu cầu mang tính khách quan, vừa cấp bách, vừa là chiến lược lâu dài...

Phản biện khoa học thúc đẩy phát triển 

Trong tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước những năm tới, Nghị quyết Đại hội XIV nêu rõ quan điểm chỉ đạo: Tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ... Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trọng tâm là cấp chiến lược và cấp cơ sở, nhất là người đứng đầu. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, nhất là tăng cường giám sát thường xuyên...

Quan điểm chỉ đạo từ Đại hội XIV của Đảng là sự kế thừa, phát huy những thành tựu, bài học kinh nghiệm từ các kỳ đại hội trước, đặc biệt là trong hai nhiệm kỳ Đại hội XII và Đại hội XIII. Đồng thời, Đảng ta tiếp tục bổ sung, nhấn mạnh sự liên kết các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát quyền lực. Đáng chú ý là sự nhấn mạnh việc tăng cường giám sát thường xuyên. Với cơ cấu quyền lực đa tầng từ Trung ương đến các địa phương, việc giám sát thường xuyên cũng đòi hỏi phải được tiến hành theo phương châm đa tầng, đa chủ thể, đa phương thức. Xây dựng và khuyến khích phát triển một hệ sinh thái phản biện lành mạnh, đa tầng, đa chủ thể, trước hết là trong Đảng và hệ thống chính trị, tiếp đến là phản biện nhân dân, chính là cách để duy trì giám sát thường xuyên, liên tục. Đó chính là một hệ sinh thái phản biện khoa học. Từ hành vi phản biện, thái độ phản biện đến văn hóa phản biện phải luôn luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết và trước hết. Phản biện để đi đến thống nhất nhận thức và hành động. Phản biện để hiến kế, kiến tạo xây dựng. Đó chính là nguyên tắc và văn hóa phản biện trong hệ sinh thái dân chủ, kỷ cương, văn minh, tiến bộ. Ở đâu, lúc nào coi nhẹ hoặc triệt tiêu phản biện khoa học, sự tha hóa quyền lực sẽ như mầm nấm độc, trỗi dậy và gây hại...

(còn nữa)