Tuy nhiên, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí, phản động tìm mọi cách chống phá trên mặt trận văn hóa-tư tưởng với nhiều hình thức ngày càng tinh vi; ra sức lợi dụng sản phẩm văn hóa, nghệ thuật như một “vũ khí” từng bước thực hiện âm mưu tác động và đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Phá hoại văn hóa - Mục tiêu lớn của các thế lực thù địch
Văn hóa-tư tưởng luôn là trận địa khốc liệt, có lúc nóng bỏng, có khi thầm lặng, thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm mọi cách chống phá. Mục đích không gì khác là tìm cách làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, hòng thực hiện cho bằng được chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bất ổn chính trị, xã hội.
 |
| Một phiên thảo luận trong khuôn khổ Diễn đàn báo chí toàn quốc năm 2025. Ảnh: NGỌC HƯNG |
Thủ đoạn của chúng rất đa dạng: Sáng tạo, truyền bá các sản phẩm văn hóa chứa nội dung tôn vinh, giới thiệu học thuyết chính trị đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin, hạ thấp giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh; sử dụng sản phẩm văn hóa để bôi đen hiện thực xã hội, nhằm kích động nhân dân; đưa các giá trị văn hóa ngoại lai để thực hiện chiến lược “xâm lăng văn hóa”... Và đặc biệt, là thường xuyên đả kích cách thức quản lý văn hóa của chúng ta để xuyên tạc Việt Nam không bảo đảm quyền tự do ngôn luận và tự do sáng tác nói riêng; cũng như các quyền văn hóa nói chung.
Tự do ngôn luận và tự do sáng tác là những vấn đề vừa có giá trị phổ quát, vừa rất nhạy cảm về chính trị, pháp lý và văn hóa. Vì vậy, đây thường là lĩnh vực được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lựa chọn để xuyên tạc, tuyệt đối hóa hoặc tách khỏi bối cảnh lịch sử, thể chế và điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Một thủ pháp khá phổ biến của các thế lực thù địch là đồng nhất mọi hoạt động quản lý nội dung với “kiểm duyệt”, đồng nhất việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật với đàn áp tự do sáng tạo. Từ một trường hợp cụ thể, họ có thể khái quát thành bản chất của cả hệ thống; từ một quyết định hành chính còn có thể tranh luận, họ quy kết rằng Việt Nam không tôn trọng quyền con người. Trong môi trường mạng, những cách diễn giải đơn giản, cực đoan như vậy thường dễ lan truyền hơn những phân tích pháp lý đầy đủ.
 |
| PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội. Ảnh do nhân vật cung cấp |
PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng: Về mặt học thuật và pháp lý, chúng ta cũng cần diễn đạt vấn đề thật chính xác, không nên nói một cách tuyệt đối rằng Việt Nam hoàn toàn không có bất kỳ cơ chế kiểm soát nội dung nào. Luật Báo chí quy định rõ báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng. Nhưng trong điện ảnh, xuất bản và một số lĩnh vực văn hóa khác vẫn có những cơ chế như biên tập, đăng ký xuất bản, phân loại phim, cấp giấy phép phổ biến, lưu chiểu, hậu kiểm và xử lý vi phạm.
“Điều cần phân biệt là kiểm duyệt tư tưởng một cách tùy tiện với quản lý nội dung trên cơ sở pháp luật. Phân loại phim theo độ tuổi, bảo vệ trẻ em trước nội dung độc hại, ngăn chặn kích động bạo lực, thù hận, xâm phạm danh dự, nhân phẩm hay quyền riêng tư không phải là hiện tượng riêng của Việt Nam. Đó là trách nhiệm bình thường của mọi nhà nước trong việc điều hòa quyền tự do của người này với quyền và sự an toàn của người khác”, PGS, TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.
Hiện nay, tại nhiều quốc gia trên thế giới, các dịch vụ truyền thông nghe nhìn không được chứa nội dung kích động bạo lực hoặc thù hận, đồng thời phải có cơ chế bảo vệ trẻ vị thành niên và bảo đảm khả năng tiếp cận đối với người khuyết tật. Công ước về quyền trẻ em cũng yêu cầu các quốc gia vừa tạo điều kiện để trẻ tiếp cận thông tin đa dạng, vừa xây dựng hướng dẫn thích hợp nhằm bảo vệ trẻ trước những thông tin, tài liệu có hại.
Tóm lại, chúng ta cần phải tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc về quyền văn hóa ở Việt Nam. Nhìn nhận, đánh giá lĩnh vực chứa đựng nhiều cảm tính là văn hóa, càng cần phải vận dụng phương pháp luận đúng đắn của Chủ nghĩa Mác-Lênin: Khách quan, toàn diện, lịch sử-cụ thể và phát triển. Thiếu đi sự tỉnh táo trong phân tích, nhận định, vội vàng a dua theo một bộ phận dư luận xã hội thì rất dễ bị rơi vào bẫy tinh vi của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị giăng sẵn.
Quyền văn hóa ngày càng được bảo đảm
Những năm gần đây, nhận thức và thực tiễn bảo đảm quyền con người trong văn hóa ở Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực. Quyền văn hóa ngày càng được nhìn nhận không chỉ là quyền được “xem”, được “nghe” mà còn là quyền tham gia, quyền sáng tạo, quyền bảo vệ bản sắc và quyền được hưởng lợi từ hoạt động sáng tạo.
 |
| PGS, TS Vũ Thị Phương Hậu, Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Ảnh do nhân vật cung cấp |
Thành tựu đầu tiên trong lĩnh vực này, theo PGS, TS Vũ Thị Phương Hậu, Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đó là: Hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện hơn theo hướng đáp ứng nhu cầu phát triển văn hóa trong tình hình mới. Nhiều luật chuyên ngành về văn hóa, nghệ thuật, di sản liên tiếp ra đời, giúp lấp đầy khoảng trống pháp lý và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Nhờ có hành lang pháp lý, chương trình, hoạt động văn hóa đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Đời sống văn hóa của người dân phong phú hơn. Nhiều sản phẩm văn hóa và dịch vụ văn hóa được sáng tạo, sản xuất, phổ biến, lưu thông trên thị trường, đáp ứng thị hiếu đa dạng của công chúng. Di sản văn hóa được bảo tồn và phát huy. Công nghiệp văn hóa được quan tâm phát triển, bước đầu có những đóng góp đối với tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP). Hợp tác quốc tế về văn hóa có nhiều khởi sắc, góp phần phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế.
Đặc biệt, Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa (2025-2035) đã được phê duyệt với tổng nguồn vốn thực hiện giai đoạn 2025-2030 tối thiểu là 122.250 tỷ đồng. Chương trình đã gỡ khó cho vấn đề thiếu nguồn vốn để đáp ứng tốt hơn các quyền văn hóa. Không gian sáng tạo và khả năng tiếp cận sản phẩm văn hóa được mở rộng đáng kể.
Các kênh phát hành trực tuyến, thương mại điện tử và mạng xã hội đang giúp sách đến với công chúng nhanh hơn, rộng hơn. Không chỉ những người kinh doanh sản phẩm văn hóa, các văn nghệ sĩ là người Việt Nam hay người nước ngoài đều khẳng định môi trường sáng tạo ở Việt Nam rất cởi mở.
 |
| Ca sĩ, diễn viên, người mẫu Nga Sonya Firsova. Ảnh do nhân vật cung cấp |
Ca sĩ, diễn viên, người mẫu Nga Sonya Firsova cho biết: “Đối với tôi, hoàn toàn ổn nếu tuân theo một số chuẩn mực văn hóa. Sau cùng, nếu bạn sắp đến một đất nước mới, bạn nên tìm hiểu về văn hóa và truyền thống của địa phương. Đó là sự tôn trọng và tôi nghĩ nhiều người nước ngoài đã làm điều đó, “nhập gia tùy tục” mà! Tôi đã ở Việt Nam để hoạt động nghệ thuật. Tôi không thấy khả năng thể hiện nghệ thuật của tôi bị hạn chế”.
Các cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực văn hóa mà phóng viên Báo Quân đội nhân dân trò chuyện đều nhận định: Những quy định cấm trong hoạt động văn hóa không mâu thuẫn với quyền tự do sáng tác và quảng bá. Quyền tự do sáng tạo rất quan trọng, nhưng cũng như hầu hết các quyền con người khác, đó không phải là một quyền tuyệt đối, không giới hạn.
Việc một số luật như Luật Điện ảnh, Luật Xuất bản của Việt Nam cấm nội dung kích động chiến tranh xâm lược, bạo lực, hận thù dân tộc; xâm phạm danh dự, nhân phẩm, bí mật đời tư; vi phạm quyền trẻ em; xâm phạm chủ quyền quốc gia hay phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là có cơ sở từ yêu cầu bảo vệ lợi ích công cộng và quyền của những chủ thể khác. Luật Xuất bản quy định cụ thể các nội dung, hành vi bị nghiêm cấm; đồng thời cũng quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý khi ban hành quyết định sai, gây thiệt hại. Luật Điện ảnh còn bổ sung yêu cầu bảo vệ trẻ em, người chưa thành niên, bảo đảm bình đẳng giới và xử lý việc phổ biến phim không thực hiện phân loại theo quy định.
 |
| Hoạt động trao truyền văn hóa, phong tục của đồng bào dân tộc thiểu số ở Gia Lai được chú trọng, truyền dạy cho thế hệ trẻ. Ảnh: NGUYỄN HÒA |
PGS, TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh: Một điểm rất đáng chú ý là pháp luật về điện ảnh không cấm việc tác phẩm mô tả cái ác, chiến tranh hay bạo lực một cách máy móc. Luật phân biệt giữa việc kích động, cổ xúy hành vi tội ác với việc thể hiện những nội dung đó nhằm phê phán, tố cáo, lên án tội ác, đề cao chính nghĩa và tôn vinh các giá trị nhân văn. Đây chính là không gian cần thiết cho sáng tạo nghệ thuật. Nếu cứ có cảnh bạo lực là cấm, có nhân vật tiêu cực là cấm, có cách nhìn khác biệt là cấm thì nghệ thuật sẽ mất khả năng phản ánh đời sống và cảnh tỉnh xã hội.
Dẫu vậy, để thúc đẩy bảo đảm quyền văn hóa hơn nữa, vẫn có ý kiến cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý hoạt động văn hóa sang tư duy kiến tạo điều kiện để mọi người thực hiện quyền này. Nhà nước không chỉ ngăn chặn cái sai, cái xấu mà còn phải chủ động tạo không gian, cơ hội và nguồn lực cho cái đúng, cái đẹp, cái mới được hình thành. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng rõ ràng, thống nhất và có khả năng dự báo. Các khái niệm liên quan đến nội dung bị cấm phải được hướng dẫn bằng tiêu chí cụ thể, hạn chế cách hiểu quá rộng hoặc áp dụng thiếu thống nhất. Theo PGS, TS Vũ Thị Phương Hậu: Quốc hội cần ban hành một đạo luật riêng liên quan đến quyền văn hóa nhằm cụ thể hóa đầy đủ các cam kết quốc tế và quy định hiến pháp về quyền văn hóa. Đạo luật này sẽ xác định rõ nội hàm các quyền văn hóa của công dân (quyền tiếp cận di sản, tham gia sáng tạo, hưởng thụ văn hóa...), cũng như trách nhiệm của Nhà nước và các chủ thể liên quan trong bảo đảm các quyền đó. Việc ban hành Luật Quyền văn hóa sẽ tạo nên một khung pháp lý thống nhất, minh bạch về quyền văn hóa, khắc phục tình trạng phân tán hiện nay.
(còn nữa)