Theo thông tư, danh mục các ngành khoa học và công nghệ trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng được xây dựng theo cấu trúc phân cấp gồm: Lĩnh vực, ngành, chuyên ngành và phân ngành.

Mẫu UAV cảm tử do Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) nghiên cứu, sản xuất tham gia diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9. Ảnh:qdnd.vn

Cụ thể, danh mục gồm 4 cấp mã: Mã cấp 1 có 2 lĩnh vực khoa học và công nghệ; mã cấp 2 có 10 ngành khoa học và công nghệ; mã cấp 3 có 51 chuyên ngành nghiên cứu; mã cấp 4 có 384 phân ngành nghiên cứu. Các ngành, chuyên ngành và phân ngành được sắp xếp theo từng cấp tương ứng. Chi tiết danh mục được quy định tại phụ lục ban hành kèm theo thông tư.

Danh mục được sử dụng tại các cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt và các cơ quan quản lý khoa học và công nghệ để phân bổ nguồn lực, hoạch định chiến lược, chính sách; theo dõi, giám sát, đánh giá hoạt động khoa học và công nghệ. Đồng thời, đây là căn cứ phục vụ công tác xét duyệt chức danh chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng.

Thông tư nêu rõ, danh mục ban hành kèm theo không thay thế bảng phân loại lĩnh vực khoa học và công nghệ do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành mà chỉ sử dụng trong phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng. Việc phân loại lĩnh vực khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 24/2025/TT-BKHCN ngày 30-10-2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Thông tư áp dụng đối với các cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ phục vụ lĩnh vực công nghiệp quốc phòng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng.

Xem toàn văn Thông tư số 159/2026/TT-BQP tại đây.