Đây không đơn thuần là câu chuyện điều chỉnh các điều kiện hưởng ưu đãi, mà còn thể hiện tư duy phát triển: Thu hút đầu tư phải gắn với lợi ích quốc gia, dân tộc, lấy chất lượng và hiệu quả làm thước đo, kiên quyết khắc phục tư duy chạy theo quy mô và thành tích.
Về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (đoàn Hải Phòng) cho biết, dự thảo luật vẫn lấy quy mô vốn và thời hạn giải ngân làm điều kiện đầu vào. Quy mô vốn là cần thiết nhưng không phản ánh chất lượng dự án. Một dự án vốn lớn nhưng dựa chủ yếu vào đất đai, năng lượng, lao động giá rẻ chưa chắc đóng góp nhiều hơn một dự án vốn vừa phải nhưng sở hữu công nghệ lõi và hình thành được hệ sinh thái doanh nghiệp.
Đặc biệt, các dự án thiết kế chip, phần mềm, trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu và phát triển-nơi tài sản chủ yếu là tri thức rất khó đạt ngưỡng vốn nếu tính theo tài sản cố định. Đại biểu đề nghị dự thảo luật quy định nguyên tắc: Ngưỡng vốn được xác định riêng theo từng nhóm lĩnh vực; chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí nhân lực trình độ cao được tính vào quy mô đầu tư; quy mô vốn phải kết hợp với trình độ công nghệ, giá trị gia tăng trong nước, hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng và mức độ liên kết.
 |
| Ảnh minh họa: baochinhphu.vn |
Có ý kiến cũng cho rằng, phải có cơ chế giám sát, hậu kiểm và thu hồi ưu đãi rõ ràng, gắn với kết quả thực hiện, chứ không chỉ dựa vào cam kết đầu vào. Dự thảo luật cần quy định cụ thể các tiêu chí đầu ra, chẳng hạn như tỷ lệ nội địa hóa, việc thành lập trung tâm chuyển giao công nghệ lõi và những kết quả thực chất khác, để nhà đầu tư biết rõ mức độ ưu đãi tương ứng với những cam kết và kết quả phải đạt được...
Thực tiễn cho thấy, trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gay gắt, nhất là ở những lĩnh vực công nghệ chiến lược, việc xây dựng cơ chế ưu đãi đủ sức hấp dẫn là yêu cầu khách quan. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải thu hút được bao nhiêu dự án, bao nhiêu vốn đăng ký, mà là những dự án ấy đóng góp gì cho nền kinh tế, có tạo ra năng lực sản xuất mới, chuyển giao công nghệ, phát triển doanh nghiệp trong nước và nâng cao sức cạnh tranh quốc gia hay không. Do vậy, việc hoàn thiện tiêu chí xác định dự án được hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt có ý nghĩa thiết thực và cần được nhìn nhận thấu đáo.
Một chính sách liên quan trực tiếp đến nguồn lực quốc gia, quyền lợi của nhà đầu tư và trách nhiệm của cơ quan quản lý không thể thiếu những quy định đủ rõ ràng, ổn định và có khả năng kiểm chứng. Đây chính là khâu then chốt để ngăn chặn tình trạng cam kết hình thức, hưởng ưu đãi nhưng không tạo ra giá trị tương xứng. Đó cũng là cách bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và nhân dân, để nguồn lực quốc gia được sử dụng đúng và phục vụ mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước.