Anh Đại bên cây dó bầu sau hơn 1 năm trồng tại vườn
Chuyện thanh hao hoa vàng ở Vĩnh Phúc, dứa ở Thanh Hóa, v.v.. đang là những bài học rất “nóng” về sự thiếu liên kết giữa các “nhà” trong xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu. Tại huyện Yên Dũng và nhiều huyện khác của tỉnh Bắc Giang, hàng chục nông dân đã vội vàng thế chấp sổ đỏ để tham gia dự án trồng dó bầu chiết xuất trầm hương. Nhưng đến nay, sau hơn một năm, họ mới giật mình đặt câu hỏi, liệu sau 5-10 năm nữa việc cấy trầm trên dó bầu có cho ra kết quả. Hiện tại, nhiều người muốn chuyển sang mô hình kinh tế khác nhưng không biết bắt đầu từ đâu bởi sổ đỏ đã mang thế chấp.

Gia đình anh Nguyễn Văn Đại ở thôn Kem (xã Nham Sơn-Yên Dũng) là một ví dụ điển hình về sự vội vàng thế chấp sổ đỏ trồng dó bầu. Khu vườn đồi của gia đình anh rộng 3ha với hàng trăm gốc vải. Tình trạng được mùa trượt giá và ngược lại khiến gia đình thu nhập chẳng đáng là bao. Năm 2005, trong lúc đang trăn trở tìm hướng đi mới thì Hợp tác xã (HTX) Nông-lâm-thủy, thủ công nghiệp và kinh tế trang trại Phương Đông (gọi tắt là HTX Phương Đông) ở Nham Sơn phối hợp với Công ty TNHH Lâm Viên Hà Nội (sau đây gọi tắt là Công ty Lâm Viên) triển khai dự án đầu tư trồng dó bầu để cấy trầm hương chiết xuất tinh dầu xuất khẩu. Sau khi nghe tuyên truyền về hiệu quả kinh tế rất cao cũng như đi thực tế tại một số địa phương trồng loại cây này, anh Đại đã nhận hơn 500 cây dó bầu trồng xen với vải thiều.

Để có thể nhận 500 cây dó bầu, anh Đại và Công ty Lâm Viên phải làm một bản hợp đồng. Một trong những điều băn khoăn được ký kết là gia đình anh Đại phải “thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở (788m2) và đất vườn đồi (8.000m2). Ngoài ra, anh Đại phải có trách nhiệm bảo vệ cây, nếu cây chết phải trồng bù lại đủ số cây trong hợp đồng bằng tiền của gia đình mình, có trách nhiệm giao đủ số cây cho bên A vào lúc thu hoạch theo tỷ lệ 51% tổng số cây. Bên A (Công ty Lâm Viên) phải có trách nhiệm cung cấp đủ cây giống, phân bón, thuốc trừ sâu, chuyển giao công nghệ cấy trầm nhân tạo, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc và bao tiêu toàn bộ sản phẩm theo giá thị trường... Tổng đầu tư mà anh Đại nhận được từ dự án là 3,2 triệu đồng. Các hộ khác khi tham gia dự án cũng phải ký hợp đồng theo phương thức này.

Tuy nhiên, sau một thời gian háo hức với cây trồng mới, anh Đại và bà con thôn Kem bắt đầu phân vân về hiệu quả của nó. “Tôi chưa được tận mắt nhìn thấy hiệu quả kinh tế của loại cây này mà mới chỉ được biết qua Công ty Lâm Viên. Vì dồn hết vốn liếng vào trồng trầm nên gia đình tôi đang không biết lấy gì lo cho cuộc sống hằng ngày”- anh Đại nói. Để có tiền nuôi hai đứa con, anh Đại nhận trồng rừng cho dự án 135. Công việc vất vả mà thu nhập lại thấp, chỉ được trả 2,2 triệu đồng/năm. Muốn chuyển sang làm mô hình kinh tế khác thì lại “tiến thoái lưỡng nan” bởi hợp đồng đã ký, sổ đỏ đã thế chấp, nếu phá vỡ sẽ “mất cả chì lẫn chài”. Sau một thời gian trồng dó bầu, nhiều người mới “biết” rằng dự án này chỉ dừng ở bước chiết xuất tinh dầu trầm mà thôi. Anh Trần Văn Hải, thôn Tràng An (xã Yên Lư-Yên Dũng) có 600 cây dó bầu, lo lắng: “Công ty Lâm Viên bảo phải sau 5-10 năm, dó bầu mới cho trầm. Từ nay đến lúc ấy chúng tôi biết sống ra sao”. Bà con tham gia dự án này đều chung suy nghĩ, không biết sau 5-10 năm, thậm chí lâu hơn thế dó bầu có cho trầm hương hay không, nếu không có trầm thì cơ quan nào chịu trách nhiệm?

Không chỉ ở Yên Dũng, mà tại 144 xã ở 7 huyện như Lục Ngạn, Lục Nam... dự án trồng dó bầu chiết xuất tinh dầu trầm của Công ty cổ phần-kinh tế xã hội VACVINA cũng khiến hàng trăm hộ nông dân lâm vào tình cảnh dở khóc, dở cười. Dự án triển khai từ tháng 3-2006 trồng hơn 5 triệu cây xen với diện tích vải một cách ồ ạt. Sau đúng 1 năm, cây trồng được nhiều người nông dân gửi gắm ước mơ làm giàu đã không thể thích hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương, vì vậy 40% số cây trồng không sinh trưởng được. Các gia đình giờ lâm vào cảnh “bỏ thì thương, vương thì tội” bởi sổ đỏ đã mang thế chấp mà không có bất cứ biên bản ký nhận nào giữa hai bên, còn nếu tiếp tục trồng thì không biết ngày mai sẽ sống bằng cách gì?

Tại hội nghị sơ kết dự án trồng dó bầu ở Yên Dũng, ông Nguyễn Thoan, Giám đốc Công ty Lâm Viên giải thích rằng “Dự án trồng cây dó bầu để cấy trầm hương chiết xuất tinh dầu xuất khẩu nên sẽ khai thác cây sau 8-10 năm nữa. Còn muốn tạo trầm hay kỳ nam thì cần 15-20 năm nữa thậm chí cả trăm năm nữa. Chúng tôi cũng không khẳng định có tạo được trầm hương hay không”. Trong khi đó, ông Nguyễn Hiệu, Chủ nhiệm HTX Phương Đông lại cho biết: “Kể cả là tạo bóng mát, lấy củi cũng được, nông dân vẫn không mất mát gì nhiều lắm. Đó là tính đến mức rủi ro cao nhất. Còn nếu theo dự án, chúng tôi chỉ đầu tư 24 tỷ đồng và có thể thu về tới 800 tỷ đồng. Và nếu hiệu quả kinh tế của dự án chỉ bằng 20% thì cũng vẫn thắng lợi lớn”. Với cách giải thích như trên của hai đại diện (với tư cách là những chủ đầu tư dự án) thử hỏi liệu người dân có thể yên tâm mà tiếp tục theo đuổi dự án hay không và rồi khi dự án không thu được kết quả như mong đợi thì họ biết kêu ai?

Được biết, các ngành chức năng của tỉnh Bắc Giang cũng cho rằng, giống cây dó bầu cấy trầm hương được đưa về trồng tại Bắc Giang không xác định được nguồn gốc nên khó có thể khẳng định có cấy trầm nhân tạo được hay không?

Việc trồng cây gì đem lại hiệu quả kinh tế cao là vấn đề thời sự, được rất nhiều người, đặc biệt là nông dân quan tâm. Vì vậy, với việc trồng dó bầu chiết xuất tinh dầu trầm hương ai cũng hy vọng đây là hướng đổi đời. Do đó, khi tham gia các dự án, nhiều hộ nhanh chóng thế chấp sổ đỏ. Vấn đề đặt ra là nếu sau này việc chiết xuất tinh dầu không thành công thì trách nhiệm thuộc về ai? Nên chăng những người tham gia dự án cần hỗ trợ các hộ nông dân để họ ổn định cuộc sống và chính quyền địa phương cần thể hiện vai trò giám sát của mình, tránh những thất bại, đổ vỡ như nhiều “liên kết” xảy ra ở nhiều nơi khác trước đây...

Bài, ảnh: Phương Thúy