QĐND - Đơn của bà Thân Thị Mùi (Nội Hoàng, Yên Dũng, Bắc Giang), 75 tuổi, có chồng là liệt sĩ Nguyễn Văn Tính, hy sinh năm 1966 trình bày: “Sau khi chồng hy sinh, tôi và các con cháu sinh sống trên mảnh đất hương hỏa đã nhiều đời, không có ai tranh chấp, nhưng không hiểu vì lý do gì mà đến nay vẫn chưa được cấp sổ đỏ, mặc dù tôi đã làm hồ sơ xin cấp nhiều lần. Ngày 14-7-2011, tôi đã trực tiếp hỏi Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện, thì được biết họ không hề nhận được hồ sơ. Ngày 4-8-2011, tôi ra UBND xã tìm hiểu thì được trả lời là đã điện xuống huyện đề nghị hủy bỏ hồ sơ, với lý do tôi không có tờ di chúc của chồng nên không có gì để làm bằng chứng mảnh đất tôi đang sinh sống là của tôi”.
Bà Mùi trình bày tiếp: Năm 1965, chồng tôi và bao người con khác của quê hương Nội Hoàng đã từ giã mẹ già, vợ trẻ, con thơ hăng hái lên đường tòng quân đánh giặc. Có ai nghĩ rằng, phải lập tờ di chúc cho vợ con để giữ lấy mảnh đất hương hỏa của gia đình mình. Trên đất nước khổ đau và anh dũng này đã có hàng triệu người ra đi và ngã xuống có mấy người viết tờ di chúc cho vợ con? Tôi biết làm gì bây giờ khi mà chồng tôi hy sinh không để lại một tờ di chúc? Không lẽ mẹ con tôi mãi phải thờ chồng, thờ cha trên mảnh đất vô thừa nhận mà người ta có thể lấy đi bất kể lúc nào hay sao? Cán bộ xã đòi hỏi một tờ di chúc của liệt sĩ để làm bằng chứng, phải chăng đó là lòng tri ân của họ đối với hương hồn liệt sĩ?...
Theo chúng tôi được biết, tại khoản 1 Điều 675 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp không có di chúc. Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế. Còn tại điểm a khoản 1 Điều 676 có quy định: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”; và khoản 2 Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005 cũng quy định: “Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau”. Thủ tục khai nhận, phân chia di sản thừa kế được thực hiện tại các phòng công chứng. Phòng công chứng căn cứ vào đơn yêu cầu và hồ sơ xin khai nhận thừa kế để ra thông báo niêm yết tại trụ sở UBND xã, phường nơi có tài sản hoặc nơi cư trú cuối cùng của người chết. Sau một thời gian niêm yết (30 ngày), nếu không có tranh chấp, khiếu nại gì, công chứng viên sẽ lập văn bản khai nhận, phân chia di sản thừa kế theo quy định.
Như vậy, theo quy định của pháp luật thì bà Mùi và các con đều là hàng thừa kế thứ nhất của liệt sĩ Tính. Mẹ con bà đã ở ổn định, không có tranh chấp trên mảnh đất ông Tính để lại từ khi hy sinh (1966) đến nay là 45 năm. Theo Điều 645, Bộ luật Dân sự quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Như vậy, nếu có tranh chấp hiện nay, thì diện tích này vẫn đương nhiên thuộc quyền sử dụng của mẹ con bà Mùi.
Chúng tôi cho rằng, trách nhiệm của UBND xã Nội Hoàng là phải hướng dẫn công dân làm các thủ tục để phân chia di sản thừa kế. Sau thời gian niêm yết công khai, nếu không có tranh chấp, sẽ chia thừa kế theo quy định, từ đó làm cơ sở lập hồ sơ cấp sổ đỏ cho mẹ con bà Mùi, chứ không thể trả lời vô trách nhiệm với thân nhân liệt sĩ như thế được./.
Hà Phương