Vì thế, ngành xi măng cần phải có những giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, quan tâm hơn đến thị trường trong nước. Đồng thời, các cơ quan quản lý cũng nên xem xét mức thuế hợp lý cho xuất khẩu xi măng.
Xuất khẩu khó, lượng dư ngày càng lớn
Xuất khẩu xi măng hiện nay đang có xu hướng giảm dần, từ mốc "đỉnh cao" 20 triệu tấn năm 2014, những năm sau đó bắt đầu đi xuống. Năm 2015, xuất khẩu xi măng đạt 16,2 triệu tấn và đến năm 2016 chỉ còn 15 triệu tấn. Theo Hiệp hội Xi măng Việt Nam, bên cạnh sự sụt giảm về lượng xuất khẩu, giá xi măng, clanh-ke bán ra nước ngoài đang xuống rất thấp. Năm 2014, giá xuất khẩu clanh-ke từ 38-40 USD/tấn sau đó giảm dần xuống 33-35 USD/tấn, 30-32 USD/tấn và thậm chí hiện nay còn 28 USD/tấn. Nguyên nhân của tình trạng này là do sự dư thừa công suất xi măng của một số nước trong khu vực. Trong đó, Trung Quốc dư thừa lên đến 600-700 triệu tấn mỗi năm (gấp 7-8 lần tổng công suất của Việt Nam hiện tại). Trung Quốc, Ấn Độ, Pa-ki-xtan và một số nước thi nhau hạ giá xuất khẩu, chiếm lĩnh thị phần làm cho giá xuất khẩu của Việt Nam liên tục giảm.
Dây chuyền sản xuất của Công ty Xi măng Vicem Hoàng Thạch. Ảnh: Tuấn Anh
Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 100/2016/NĐ-CP và Nghị định số 122/2016/NĐ-CP liên quan đến thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu. Theo quy định mới, mặt hàng xi măng khi tham gia xuất khẩu không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và chịu thuế suất thuế xuất khẩu 5%. Đánh giá tác động của những quy định này, ông Nguyễn Quang Cung, Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam cho biết, theo tính toán của các doanh nghiệp sản xuất xi măng, khi quy định mới về thuế được áp dụng, chi phí xuất khẩu có thể tăng thêm khoảng 4,5USD cho mỗi tấn clanh-ke và tăng 7,5 USD/tấn xi măng. "Việc tăng chi phí này khiến xuất khẩu xi măng Việt Nam gần như không thể cạnh tranh với các nước như: Trung Quốc, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Nhật Bản… Điều này có thể dẫn đến việc phải dừng xuất khẩu xi măng, clanh-ke. Lúc đó, lượng dư thừa công suất sẽ dồn vào thị trường nội địa", ông Nguyễn Quang Cung bày tỏ.
Thực tế, tình trạng cung vượt cầu của ngành xi măng đã được cảnh báo từ lâu. Theo thống kê của Bộ Xây dựng, năm 2016, tổng công suất 78 nhà máy xi măng trên cả nước đạt gần 87 triệu tấn, trong đó tổng sản lượng tiêu thụ ước đạt 75,21 triệu tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ (tiêu thụ nội địa gần 60 triệu tấn-tăng 6,2%, xuất khẩu giảm 5,9% so với cùng kỳ). Như vậy, thị trường xi măng cung vẫn vượt cầu khoảng 20%. Hiệp hội Xi măng Việt Nam cung cấp thông tin, giai đoạn 2018-2020, tổng công suất thiết kế của các dự án xi măng đã đi vào sản xuất sẽ là 108 triệu tấn. Do cải tiến kỹ thuật nên năng lực sản xuất thực tế cao hơn công suất thiết kế, có thể đạt 95 triệu tấn (năm 2017) và 116 triệu tấn (năm 2020) trong khi nhu cầu tiêu thụ nội địa năm 2017 khoảng 65 triệu tấn, năm 2020 là 80 triệu tấn. Như vậy, nếu không xuất khẩu được thì lượng dư thừa năm 2017 sẽ là 30 triệu tấn và đến năm 2020 là 36 triệu tấn. Áp lực dư thừa quá lớn có thể khiến một số doanh nghiệp phá sản, các doanh nghiệp khác sản xuất cầm chừng.
Giảm giá thành, mở rộng thị trường nội địa
Định hướng phát triển ngành xi măng của Chính phủ trong thời gian tới vẫn xem xuất khẩu xi măng là một trong những kênh tiêu thụ quan trọng. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, dự kiến xuất khẩu xi măng, clanh-ke chiếm 20-30% công suất. Trong thời gian qua, ngành xi măng đã có nhiều nỗ lực để giảm tỷ lệ sử dụng tài nguyên khoáng sản như đầu tư chiều sâu, cải tiến công nghệ, tăng tỷ lệ pha phụ gia vào xi măng. Hiện nay, toàn ngành xi măng đã tăng tỷ lệ phụ gia lên đến 30-40%, tỷ lệ clanh-ke giảm từ 80% xuống còn 70-60%, giảm tiêu tốn đáng kể đá vôi, đất sét và than. Bên cạnh đó, các đơn vị sản xuất xi măng cũng đẩy mạnh việc sử dụng phế thải công nghiệp, đặc biệt là tro, xỉ làm nguyên liệu, phụ gia thay thế, sử dụng phế thải làm thạch cao nhân tạo thay cho thạch cao tự nhiên. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh, giảm giá thành cho sản phẩm xi măng Việt Nam, từ đó tạo lợi thế trong xuất khẩu.
Thực tế, đối với ngành xi măng, khi công suất dư thừa, doanh nghiệp mới nghĩ đến xuất khẩu, còn lại sẽ tập trung tối đa cho tiêu thụ nội địa do hiệu quả mang lại cao hơn. Sản xuất, kinh doanh năm 2016 của doanh nghiệp xi măng cũng ghi nhận một số điểm sáng tích cực đối với thị trường trong nước. Như với Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam (Vicem), mức tiêu thụ xi măng và clanh-ke năm 2016 đạt hơn 25,8 triệu tấn, tăng hơn 12%, lợi nhuận đạt hơn 2.500 tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2015. Ông Trần Việt Thắng, Tổng giám đốc Vicem chia sẻ: "Tổng công ty đã vượt qua được giai đoạn khó khăn nhất. Các đơn vị đều đã chủ động trong kế hoạch sản xuất, sửa chữa và đều có lợi nhuận. Với Xi măng Hạ Long, đơn vị Vicem vừa tiếp nhận, từ chỗ mỗi năm lỗ hàng trăm tỷ đồng đã có chuyển biến tích cực, từng bước ổn định sản xuất, kinh doanh".
Năm 2017, dự kiến nhu cầu xi măng trong nước tăng thêm khoảng 5 triệu tấn, tạo cơ hội cho các đơn vị đẩy mạnh tiêu thụ nội địa. Vicem đặt mục tiêu tăng tiêu thụ trong nước tối thiểu 15% so với năm 2016. Theo ông Trần Việt Thắng, để đạt được mục tiêu đề ra, các đơn vị thuộc tổng công ty phải tiếp tục đầu tư công nghệ, gỡ những điểm nghẽn trong dây chuyển sản xuất, nâng cao hiệu quả để từ đó giảm giá thành sản phẩm. Tổng công ty cũng thực hiện các giải pháp để giảm cạnh tranh trong nội bộ, khai thác tốt các địa bàn truyền thống của từng đơn vị thành viên và mở rộng hơn nữa thị phần. Nhận định về sản xuất xi măng trong thời gian tới, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Phạm Hồng Hà cho rằng, trọng tâm của ngành vẫn là xử lý tốt vấn đề thị trường, trong đó phải quan tâm đến các lĩnh vực như logistics, quản trị bán hàng và chú trọng phân phối đều trên các vùng, miền của cả nước. Đồng thời, tính liên kết của ngành xi măng phải cao hơn nữa để tránh tình trạng chạy đua về sản lượng nhưng hiệu quả không cao.
Ngành xi măng bước vào năm 2017 với tâm thế chờ đón nhiều khó khăn phía trước. Là ngành sản xuất vật liệu xây dựng chủ lực, trong bối cảnh đất nước đang có nhu cầu lớn về phát triển cơ sở hạ tầng, xi măng giữ vai trò không thể thiếu. Để thật sự phát triển bền vững, nâng cao giá trị, sản xuất xi măng cần phải có những bước chuyển mình hơn nữa, trong đó chú trọng sử dụng hiệu quả tài nguyên và phát huy được năng lực sản xuất.
MẠNH HƯNG - PHẠM HƯNG