QĐND - Thời gian gần đây, hàng trăm nông dân ở tỉnh Đắc Nông phải đối mặt với thực trạng tiền mất tật mang từ Dự án cà phê chè (Arabica). Được biết, hàng nghìn héc-ta cà phê Arabica do trồng không đúng quy trình kỹ thuật, nên năng suất rất thấp bị "xóa sổ". Hậu quả là, những người nông dân trồng cà phê trong dự án bị rơi vào tình trạng không có khả năng thanh toán công nợ, trong khi phía công ty chưa có biện pháp xử lý dứt điểm...
 |
|
Quang cảnh nhà xưởng, máy móc của Công ty TNHH MTV cà phê Đắc Nông đang bị bỏ hoang.
|
Dự án trồng cây cà phê chè Việt Nam được khởi động từ năm 1997, với vốn đầu tư giai đoạn 1 lên đến 800 tỷ đồng. Một nửa trong số tiền này được vay từ nguồn vốn AFD của Pháp với lãi suất 3,5%/năm; phần còn lại vay từ các tổ chức tín dụng trong nước và do người nông dân cùng doanh nghiệp bỏ ra. Đến năm 2002, dự án cà phê chè được triển khai tại các huyện phía nam tỉnh Đắc Lắc (đến năm 2004, khi chia tách, thành lập tỉnh mới, các huyện này thuộc tỉnh Đắc Nông) với hy vọng sẽ tạo công ăn việc làm, mang lại thu nhập cho hàng nghìn hộ nông dân, làm tăng doanh thu cho ngành cà phê Việt Nam.
Ngay sau khi triển khai dự án, Công ty vật tư cà phê Tây Nguyên nay là Công ty TNHH MTV cà phê Đắc Nông đã ký kết hợp đồng với người nông dân trồng cà phê trong tỉnh. Theo đó, công ty có trách nhiệm đầu tư cây giống, thuốc, phân bón… đến bao tiêu sản phẩm, với định mức tối đa không quá 25 triệu đồng/ha được triển khai trong ba năm. Tuy nhiên, chỉ hơn hai năm triển khai (từ năm 2002-2004), phía công ty bỗng dưng ngừng đầu tư, thế là người nông dân trong dự án không có vốn để tiếp tục đầu tư. Hậu quả là hàng nghìn héc-ta cà phê bị bỏ hoang lụi tàn, nhiều hộ còn bấm bụng đốn hạ, chấp nhận cảnh trắng tay.
Được biết, cây cà phê chè rất khó trồng, đòi hỏi phải có kỹ thuật chăm sóc, khí hậu thổ nhưỡng phải phù hợp, hệ thống nước tưới phải được bảo đảm. Trong khi phần lớn người dân tham gia dự án chỉ quen trồng và chăm sóc cà phê vối (Rubusta). Đã thế phía công ty, do đội ngũ nhân viên kỹ thuật còn thiếu và yếu nên không kịp thời hướng dẫn tư vấn về kỹ thuật cho người dân. Do vậy, người dân cứ phải mày mò trồng và chăm sóc cà phê chè theo kinh nghiệm trồng cà phê vối. Hệ quả tất yếu là hàng trăm héc-ta cà phê chè kém phát triển, cho năng suất thấp, thậm chí bị chết lụi. Thêm vào đó, ở thời điểm năm 2001-2005, giá cà phê thu mua trên thị trường quá thấp, người nông dân không còn mặn mà với cây cà phê, dẫn đến trào lưu phá cà phê sang trồng các loại cây trồng khác.
Sau gần 10 năm, hàng nghìn héc-ta cà phê chè bị “xóa sổ”, Dự án cà phê chè coi như bị “chết yểu”, cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc nhà xưởng xây dựng phục vụ dự án nằm đắp chiếu, gây lãng phí cả chục tỷ đồng tiền ngân sách. Còn người nông dân phải gánh chịu những khoản nợ mà họ gọi là “tiền mất tật mang”. Không ít người dân tham gia dự án cho rằng, do công ty không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng, nên đã đẩy hàng chục hộ dân lâm vào đường lao lý vì tội cố tình không thanh toán cho công ty.
Ông Trần Đức Ngọc, thôn Đắc Kuan, xã Đắc N’drung, huyện Đắc Song khẳng định: “Việc công ty thực hiện không đúng như cam kết trong hợp đồng đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống kinh tế của nhiều hộ nông dân, trong đó có gia đình tôi là một thực tế. Do vậy, việc công ty kiện nông dân ra tòa là vô lý.
Còn theo bà Nguyễn Thị Huê, một người nông dân khác: Vào ngày 23-4-2002, gia đình tôi có ký Hợp đồng kinh tế số 76/HĐKT, với Công ty TNHH MTV cà phê Đắc Nông, để đầu tư trồng, chăm sóc 4ha cà phê chè. Khi đang thực hiện dự án thì công ty ngừng đầu tư, trong khi hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp khó khăn không có tiền để chăm sóc dẫn đến cà phê bị chết. Gia đình tôi đã nhiều lần mời đại diện phía công ty xuống giải quyết nhưng không ai can thiệp. Trước sự việc trên, gia đình tôi phải chuyển đổi sang trồng cây hồ tiêu và hoa màu khác nhằm ổn định cuộc sống. Đến ngày 13-4-2011, công ty khởi kiện ra tòa, yêu cầu gia đình tôi phải hoàn trả tổng số tiền mà công ty đầu tư là 174.004.923 đồng. Đúng, gia đình tôi có vay của công ty số tiền trên để đầu tư trồng cà phê chè theo dự án. Song, gia đình tôi không chấp nhận trả nợ vì bên phía công ty tự phá vỡ hợp đồng, đẩy gia đình tôi lâm vào cảnh bất lợi, nợ nần chồng chất.
Hệ lụy mà Dự án cà phê chè để lại cho các hộ dân là rất lớn. Đến nay, vẫn còn không ít hộ đang phải “gánh” trên vai món nợ đến hạn phải trả, chưa biết tới đây sự việc sẽ được giải quyết ra sao (?). Đây là bài toán khó đặt ra cho các ngành chức năng của địa phương. Đề nghị phía công ty sớm phối hợp với chính quyền địa phương và người dân tham gia dự án tìm biện pháp xử lý thỏa đáng nhằm hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại cho các bên liên quan.
Bài và ảnh: TRẦN QUỲNH – BÌNH ĐỊNH