QĐND - Thăm Vịnh Hạ Long, bạn đừng quên đến núi Bài Thơ. Đây là ngọn núi đẹp thuộc vùng di sản kỳ vĩ Hạ Long. Trên núi này còn lưu lại các bài thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông khắc trên đá năm 1468 và của An Đô Vương Trịnh Cương năm 1729. Vì các bài thơ này nên núi đã có tên là núi Bài Thơ.

Theo các nhà địa chất, núi Bài Thơ hình thành từ kỷ Đê-vôn, trong cuộc vận động tạo núi In-đô-nê-xi-a. Đỉnh cao nhất của núi có hình ngọn mác chĩa lên trời, đấy là cốt + 168m, phía dưới có nhiều ngọn, nhiều mỏm chông chênh, vách đá dựng đứng, những lèn đá tai mèo nhọn hoắt làm cho núi có một vẻ cổ kính, huyền bí.

Từ nhiều góc độ ta sẽ thấy núi có lúc dáng như hổ phục, lúc có dáng như sư tử vờn mồi, lúc có dáng như con rồng sắp cất cánh… Núi này thuở xưa có tên núi Rọi Đèn, tên chữ là Truyền Đăng Sơn. Tương truyền rằng, ngày xưa lính thú gác trên núi hễ có giặc giã đến thì đốt lửa báo về kinh thành, từ đó xuất hiện tên núi Truyền Đăng.

Núi Bài Thơ trở nên đẹp, nên thơ hơn từ mùa xuân năm 1468, năm Quang Thuận thứ 9, đời Vua Lê Thánh Tông, (cháu nội của Lê Lợi), đưa quân đi tuần ở vùng biển Đông Bắc, có dừng thuyền ở chân núi Truyền Đăng, phía giáp với Vịnh Hạ Long để uống rượu ngâm thơ. Xúc động trước cảnh đẹp non sông cẩm tú, nhà thơ - nhà vua Lê Thánh Tông đã cho khắc một bài thơ lên vách đá, tạm hiểu ý như sau:

Núi Bài Thơ. Nguồn: Internet

Nước lớn mênh mông, trăm sông chầu vào

Núi non la liệt rải rác như quân cờ, vách đá liền trời

Có tráng trí, nhưng lúc mới dựng nghiệp vẫn theo người, như quẻ

Hàm hào cửu tam (đã định)

Nay một tay mặc sức tung hoành, quyền uy như thần gió

Phía bắc, bọn giặc giã như hùm beo đã dẹp yên

Vùng biển phía đông, khói chiến tranh đã tắt

Muôn thuở trời Nam, non sông bền vững

Bây giờ chính là lúc giảm việc võ, tu sửa việc văn.

Bài thơ này được khắc trên một vách đá khá phẳng, cách mặt đất chừng 2,5m, gồm 56 chữ Hán, khắc liền một mạch, không phân câu như hiện nay chép lại. Trong 56 chữ trên có 21 chữ đã mờ hẳn, không thể đọc nổi, những chữ còn lại rất mờ. Trước phần thơ có phần lạc khoản (đề tựa) gồm 49 chữ, cũng bị phân hóa gần như hoàn toàn. May mắn, bài thơ trên có chép trong thư tịch cổ, nên đó chính là chỗ dựa của các nhà nghiên cứu.

261 năm sau, vào năm 1729 chúa An Đô Vương Trịnh Cương, một nhà thơ có tiếng thời Lê - Trịnh, cũng đem quân đi tuần qua đây. Ông cho đóng quân đồn trú dưới chân núi Truyền Đăng. Đọc thấy bài thơ của Vua Lê Thánh Tông, Chúa Trịnh bèn họa lại bằng một bài thất ngôn bát cú, lấy theo vần "yên" của bài trước, dùng lại 4 chữ "thiên" "quyền" "yêu" "niên" trong bài của Lê Thánh Tông. Dưới đây là một bản dịch hay, được nhiều người biết:

Biển rộng mênh mang, nước dâng đầy

Núi chìm xuống nước, nước tràn mây

Bàn tay tạo hóa sao khéo dựng

Cảnh đẹp thần tiên một chốn này.

Mùi tanh giặc thác còn đâu đó

Cỏ hoa sương khói vẫn còn đây

Ba quân tướng sĩ đều vui vẻ

Bữa tiệc biển khơi chén rượu đầy.

Bài thơ của Trịnh Cương được khắc theo lối chữ hành, trên một vách đá nghiêng xuống, nên tránh được hủy hoại của nước mưa, đến nay còn rõ nguyên, rất dễ đọc.

Đến đầu thế kỷ 20 nhiều tao nhân, mặc khách đi du ngoạn vùng Hạ Long, gặp bài thơ này lại cho khắc 7 bài thơ nữa, có bài chữ Hán, có bài chữ Quốc ngữ trên những vách đá lân cận. Tổng số bây giờ có 9 bài thơ còn lưu truyền trên vách đá.

Núi Bài Thơ còn là một di tích lịch sử ghi dấu những mốc son của quân và dân thành phố Hạ Long. Tối ngày 30-4-1930, đồng chí Đào Văn Tuất dũng cảm cắm lá cờ Đảng trên đỉnh núi Bài Thơ ở mỏm Mỏ Quạ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, trên núi đặt loa truyền thanh lớn để phát hiệu lệnh phòng không và một trạm quan sát máy bay địch từ xa. Một số hang động trong núi cũng được sử dụng để làm nơi sản xuất, cư trú, trạm y tế, trạm thông tin bưu điện…

Văn Ngân