Tình trạng tồn đọng và chậm thi hành các bản án dân sự đã có hiệu lực pháp luật đang là nỗi bức xúc ở nước ta hiện nay. Vấn đề đặt ra là phải khẩn trương, kiên quyết khắc phục tình trạng đó và đặc biệt, cần làm rõ và xử lý các tiêu cực nảy sinh trong hoạt động này.

4 lần hoãn vẫn phải chờ

Ông Lê Hồng Phương, sinh năm 1958, tham gia chiến đấu chống Mỹ từ năm 1973, được thưởng nhiều Huân chương, đến năm 1982 chuyển ngành và hiện trú tại 43 An Dương Vương, phường 8, quận 5, TP Hồ Chí Minh. Ngày 27-8-2000, ông Phương ký hợp đồng với bà Nguyễn Thị Thanh Tao mua căn nhà 36 Nguyễn Thị Diệu, phường 6, quận 3, TP Hồ Chí Minh với điều kiện ngoài số tiền trong hợp đồng, ông Phương còn phải chịu tiền hoá giá căn nhà theo Nghị định 61/CP và tiền thủ tục sang tên. Ông Phương đã nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Sau khi hoàn tất việc mua bán căn nhà với nhà nước, ngày 16-1-2003, UBND TP Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở căn nhà 36 Nguyễn Thị Diệu cho bà Nguyễn Thị Thanh Tao theo hồ sơ gốc 882/2003. (Công văn 8380/UBND-ĐT ngày 10-11-2006 của UBND TP Hồ Chí Minh, khẳng định: "Giữ nguyên giá trị pháp lý Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 882/2003 của UBND thành phố đã cấp cho bà Nguyễn Thị Thanh Tao đối với căn nhà trên). Lẽ ra, bà Tao phải làm thủ tục sang tên và bàn giao nhà cho ông Phương, nhưng vì nảy sinh mâu thuẫn, đòi nhà không được nên ông Phương kiện ra Toà án. (Công văn số 436/C16 (P2) ngày 20-12-2004 của cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an đã có kết luận: "Việc mua bán căn nhà 36 Nguyễn Thị Diệu giữa bà Tao, ông Phương và bà Diệp không thành, có sự tranh chấp là quan hệ dân sự, thuộc thẩm quyền của toà án, nếu cần có thể khởi kiện tại toà án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật").

Ngày 4-2-2005, bản án dân sự sơ thẩm số 233/DSST của TAND TP Hồ Chí Minh xác định Hợp đồng mua bán nhà trên là hợp đồng vô hiệu, tuyên huỷ Hợp đồng và buộc bà Tao phải có trách nhiệm hoàn trả và bồi thường thiệt hại cho ông Phương tổng số tiền là 3.611,69 lượng vàng SJC. Không đồng ý với án sơ thẩm, các bên kháng cáo lên Toà phúc thẩm. Ngày 20-5-2005, Toà phúc thẩm TAND tối cao tại TP Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm bản án trên và ra bản án phúc thẩm số 161/DSPT tuyên: Y án sơ thẩm.

Vẫn không đồng ý với bản án phúc thẩm, bà Tao làm đơn khiếu nại lên VKSND tối cao (cả hai phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm trên đều có sự tham dự của đại diện Viện kiểm sát). Ngày 11-8-2005 VKSND tối cao có văn bản số 47/CV/VKSNDTC-V5 yêu cầu tạm dừng thi hành án bản án 161/DSPT trong thời hạn 90 ngày để xem xét lại. Sau đó VKSND tối cao có văn bản số 138 và 139/VKSNDTC-V5 trả lời: Không có cơ sở kháng nghị bản án phúc thẩm số 161/DSPT. Bản án được triển khai thi hành, căn nhà 36 Nguyễn Thị Diệu được phát mại để bảo đảm thi hành án. Ngày 16-5-2006, Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản TP Hồ Chí Minh tiến hành bán đấu giá và người được mua là ông Hoàng Ngọc Tài (trú tại phường 15, quận 10, TP Hồ Chí Minh) với giá 3.505 lượng vàng. Ông Tài đã nộp đủ tiền, hoàn tất các thủ tục và theo biên bản sẽ được nhận nhà vào ngày 5-6-2006.

Nhưng một năm qua, ông Tài vẫn chưa nhận được nhà bởi 4 lần hoãn thi hành án của cơ quan Thi hành án (THA) dân sự TP Hồ Chí Minh. Đến đây chúng tôi xin cung cấp một chi tiết: Ngày 29-7-2006, Phan Văn Hải (tức Hải “luật”, Hải “phò”) trú ở TP Hồ Chí Minh, đã bị bắt theo lệnh truy nã của Công an TP Hồ Chí Minh. Trong số những tài liệu mà Hải mang theo khi bị bắt có tài liệu liên quan đến việc Hải đang nhận chạy hoãn THA của vụ án trên. Không biết Hải (hay những người có liên quan với Hải) có thật “chạy hoãn THA” hay không? Chỉ biết xung quanh những lần hoãn THA này đều có những biểu hiện không bình thường, xảy ra vào “phút 89”? Như lần thứ 3, theo Thông báo về việc “Dời ngày cưỡng chế” số 2712/THA ngày 19-6-2006 của THA dân sự TP Hồ Chí Minh có nội dung: “Ngày 12-6-2006, THA dân sự TP Hồ Chí Minh đã ra Quyết định cưỡng chế số 665/THA bằng biện pháp trục xuất toàn bộ những người cư trú tại 36 Nguyễn Thị Diệu, phường 6, quận 3, thời gian dự kiến vào lúc 9 giờ ngày 19-6-2006 để giao nhà, đất trống cho người mua trúng đấu giá theo quy định của pháp luật. Ngày 19-6-2006, THA TP Hồ Chí Minh nhận được điện của Bộ Tư pháp, yêu cầu cơ quan Thi hành án TP Hồ Chí Minh tạm ngưng việc cưỡng chế, mang hồ sơ THA ra Cục THA báo cáo. Do đó, cơ quan Thi hành án TP Hồ Chí Minh tạm dời việc cưỡng chế vào một ngày khác...”. Hay lần hoãn thứ 4, dự kiến cưỡng chế ngày 15-3-2007 nhưng không thực hiện được, bởi ngày 15-3-2007 TAND tối cao có văn bản số 10/TANDTC-DS yêu cầu: “hoãn thi hành bản án trên trong thời hạn 90 ngày để có thời gian xem xét lại đơn khiếu nại của đương sự”. Mặc dù trước đó, ngày 27-12-2006, cũng chính TAND tối cao đã có Công văn số 3178/DS trả lời đơn khiếu nại của đương sự, trong đó khẳng định bản án phúc thẩm xử là có căn cứ, bà Tao có lỗi 100% và phải chịu bồi thường theo quyết định của bản án?

Do bản án dân sự 161/DSPT chậm được thi hành mà ông Lê Hồng Phương và ông Hoàng Ngọc Tài phải chịu những thiệt hại lớn về vật chất và tinh thần. Ngày 25-5-2007, trình bày với phóng viên báo Quân đội nhân dân, ông Lê Hồng Phương tỏ ra rất bức xúc: “Cứ kiểu vòng vo như thế này thì bao giờ quyền lợi chính đáng của chúng tôi mới được thực hiện. Chúng tôi đề nghị các cơ quan có trách nhiệm, cơ quan thông tin đại chúng hãy làm rõ sự thật để bản án sớm được thi hành theo quy định của pháp luật, đồng thời làm rõ hành vi của những người cố tình ngăn cản việc THA với những động cơ không lành mạnh, trong đó có biểu hiện chạy án của Phan Văn Hải và những người liên quan đến Hải”.

Triệt tiêu những bất cập, tiêu cực

Sự chậm trễ trong thi hành án dân sự gây nhiều hậu quả nặng nề, làm cho luật pháp không nghiêm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích chính đáng, niềm tin của người dân vào sự nghiêm minh của pháp luật. Để khắc phục tình trạng trên, chúng ta cần tiến hành nhiều biện pháp đồng bộ và kiên quyết. Kịp thời xem xét, ban hành, chỉnh sửa các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này, bảo đảm không có kẽ hở để nảy sinh tiêu cực, tham nhũng. Tăng cường cố gắng về mọi mặt với cái tâm, cái tầm của những người làm công tác xét xử, THA để có những bản án dân sự đúng luật, công bằng, nghiêm minh được đưa ra THA chính xác và nhanh chóng. Đặc biệt cần có các biện pháp kiên quyết để ngăn chặn, xử lý đối với các hành vi chạy hoãn THA. Việc khiếu nại, can thiệp của các cá nhân, tập thể, cơ quan, đơn vị vào quá trình xét xử, THA để bảo đảm quyền lợi chính đáng của mình, vì sự nghiêm minh, chính xác, công bằng là cần thiết và đã được pháp luật quy định rõ ràng. Nhưng việc khiếu nại hay can thiệp đó phải đúng luật, chính xác. Không thể chấp nhận hành vi khiếu nại hay can thiệp vào quá trình THA dân sự một cách gian dối, không đúng chức trách, nhiệm vụ của mình. Đặc biệt, thời gian qua xuất hiện tình trạng chạy hoãn THA dân sự để mưu lợi cá nhân bằng cách nguỵ tạo hồ sơ, chứng cứ giả, thông tin không đúng sự thật, dùng lợi ích vật chất hòng làm thay đổi tính đúng đắn của các bản án dân sự và sự cần thiết phải thi hành bản án đó, thậm chí vi phạm pháp luật. Chẳng hạn pháp luật quy định, cơ quan THA không được dừng THA quá 60 ngày, nhưng thời gian dừng THA trong vụ án trên của cơ quan THA đã vượt qua con số 60 quá nhiều ngày?

Chúng ta cần tiến hành các biện pháp mạnh mẽ vạch mặt những đối tượng có vi phạm hay chạy hoãn THA để xử lý nghiêm khắc theo quy định của kỷ luật Đảng, kỷ luật chính quyền và pháp luật hình sự. Các cán bộ, công chức, cơ quan có trách nhiệm ban hành và thực thi các bản án dân sự nếu phát hiện có những sai sót thật sự thì phải kịp thời sửa chữa nhưng đồng thời cần vững vàng bảo vệ các quyết định đúng pháp luật của mình, kiên quyết không để tiêu cực, tham nhũng tác động làm thay đổi, biến chất.

Triệt tiêu những bất cập, những tiêu cực nảy sinh gây chậm trễ THA dân sự chính là chúng ta đã góp phần tích cực vào công tác cải cách tư pháp, chống tham nhũng tiêu cực trong lĩnh vực hết sức nhạy cảm này.

Bài, ảnh: Nhóm phóng viên Phòng Bạn đọc và Cộng tác viên