Áp lực từ chi phí vận hành và rào cản kỹ thuật

Năm 2026 chứng kiến những biến động khó lường của thị trường năng lượng toàn cầu, gây tác động trực tiếp đến đặc thù sản xuất phụ thuộc lớn vào vận tải thủy và hệ thống kho lạnh của vùng. 

Tính đến cuối quý I-2026, giá dầu diesel tăng mạnh đã đẩy chi phí vận chuyển nông sản từ cánh đồng đến cảng xuất khẩu tăng thêm khoảng 10-15%. 

Nhiều đơn vị xuất khẩu gạo và thủy sản đang đứng trước bài toán nan giải, nếu tăng giá bán sẽ mất lợi thế cạnh tranh quốc tế, nhưng nếu giữ giá thì khó lòng bù đắp chi phí vận hành ngày càng đắt đỏ.

  Nông dân tỉnh Đồng Tháp thu hoạch lúa.

 

Ông Hoàng Quang Phòng, Phó chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, diễn biến phức tạp tại các khu vực như Trung Đông có thể làm gián đoạn luồng hàng hóa, khiến chi phí logistics vốn đã cao nay càng thêm rủi ro. Do đó, việc chủ động tìm kiếm các tuyến vận chuyển mới và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu ngoài các đối tác truyền thống là giải pháp bắt buộc để duy trì đà tăng trưởng.

Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, chi phí logistics của ĐBSCL chiếm tới 30% giá thành sản phẩm các mặt hàng nông sản, thủy sản.

Khu vực có lợi thế đủ các loại hình vận tải đường sông, đường biển, đường bộ và hàng không, nhưng hiện chỉ có hơn 1.400 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics, phần lớn hoạt động riêng lẻ, chưa có sự kết nối chặt chẽ với nhau giữa các phương thức vận tải nên thường gây ra chậm trễ, chi phí phát sinh cao.

Người dân Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch cá tra. 

 

Song hành với áp lực chi phí là những tác động từ biến đổi khí hậu. Trong những tháng đầu năm 2026, tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn đã lấn sâu vào đất liền từ 42km đến 65km tại các cửa sông Cửu Long và sông Vàm Cỏ. Tình trạng này gây thiếu hụt nguồn nước sản xuất nghiêm trọng tại các địa phương ven biển như Cà Mau, Vĩnh Long, đặt các doanh nghiệp chế biến thực phẩm vào trạng thái báo động về chi phí xử lý nước và nguy cơ đứt gãy vùng nguyên liệu. 

Đặc biệt, các tiêu chuẩn ESG là những rào cản xanh mà các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như châu Âu đang kiên quyết áp dụng. Điều này buộc các doanh nghiệp muốn xuất khẩu phải tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn về môi trường, từ quy trình sản xuất đến nguyên liệu đầu vào đang tạo ra thách thức lớn cho nông sản xuất khẩu.

Tại ĐBSCL, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ rất lúng túng vì thiếu chuyên môn để đo đạc dấu chân carbon trên sản phẩm. Việc kiểm kê khí nhà kính đòi hỏi quy trình kỹ thuật và dữ liệu chính xác, nhưng nhân sự tại chỗ chưa đáp ứng được, dẫn đến việc doanh nghiệp không biết bắt đầu từ đâu để đạt chuẩn quốc tế. 

Khó khăn về kỹ thuật này cũng khiến doanh nghiệp khó tiếp cận các gói tín dụng xanh, doanh nghiệp không thể vay nếu không chứng minh được các chỉ số giảm phát thải bằng số liệu cụ thể. 

Sự kết hợp giữa giá nhiên liệu cao và rào cản xanh buộc doanh nghiệp phải chuyển đổi phương thức sản xuất nếu không muốn bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu.

Khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển bền vững

Theo đánh giá của các cơ quan hoạch định chính sách, dù tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực ĐBSCL đạt mức khá, song chất lượng tăng trưởng vẫn chưa tương xứng. Quy mô giá trị công nghiệp của vùng hiện chỉ chiếm khoảng 8,5-9% cả nước. 

 Tối ưu hóa hạ tầng logistics tại Đồng bằng sông Cửu Long là yêu cầu cấp thiết để giảm sự lệ thuộc vào đường bộ.

 

Đáng chú ý, khu vực vẫn chưa hình thành được các cụm liên kết ngành vùng thực thụ dựa trên đặc thù nguyên liệu và logistics, vai trò điều phối vùng và cơ chế hợp tác giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo còn yếu, dẫn tới công nghiệp vùng thiếu sự lan tỏa, năng suất thấp và khó mở rộng quy mô chuỗi giá trị. 

Bà Nguyễn Thị Thương Linh, Phó giám đốc VCCI chi nhánh ĐBSCL nhận định, doanh nghiệp trong vùng hiện vẫn nhỏ về quy mô và hạn chế về năng lực thích ứng. Hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, trình độ công nghệ chưa cao và liên kết chuỗi còn rời rạc. 

Thực tế cho thấy, dù đường cao tốc có nối dài nhưng nếu doanh nghiệp vẫn hoạt động rời rạc, chi phí logistics vẫn sẽ chiếm tỷ trọng cao. Việc hình thành các cụm liên kết ngành tại các địa bàn trọng điểm như Cần Thơ, An Giang hay Cà Mau sẽ cho phép tối ưu hóa luồng hàng thông qua việc gom hàng tập trung và chia sẻ hạ tầng kho lạnh dùng chung. Đây chính là giải pháp giúp triệt tiêu các chi phí trung gian, biến logistics từ rào cản thành lợi thế cạnh tranh cho nông sản Việt.

Theo các chuyên gia, để giải quyết các thách thức hiện nay, cộng đồng doanh nghiệp cần thực hiện lộ trình dựa trên 3 nội dung trọng tâm. 

Trước hết, tối ưu hóa hạ tầng logistics đa phương thức là yêu cầu cấp thiết để giảm sự lệ thuộc vào đường bộ. Khi các cụm cảng logistics ở ĐBSCL đi vào vận hành hiệu quả, mạng lưới giao thông thủy nội địa sẽ thực sự trở thành trục xương sống giúp rút ngắn thời gian và giảm chi phí vận tải hàng xuất khẩu.  

Song song với đó, việc tiếp cận nguồn tài chính chuyển đổi xanh là điều kiện bắt buộc để nông sản Việt trụ vững tại các thị trường cao cấp. Ngân hàng Nhà nước đã nới rộng quy mô gói tín dụng cho ngành nông, lâm, thủy sản lên đến 185.000 tỷ đồng. Việc tăng mạnh nguồn cung vốn này là giải pháp kịp thời, giúp doanh nghiệp có nội lực đầu tư vào năng lượng tái tạo, hệ thống sản xuất tuần hoàn và đáp ứng các tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc carbon của quốc tế. 

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu bằng công nghệ. Sự phối hợp giữa doanh nghiệp và các viện, trường trong việc chuyển giao quy trình tiết kiệm nước hay ứng dụng hệ thống quan trắc mặn tự động là yếu tố then chốt để bảo vệ vùng nguyên liệu.

Tuy nhiên, nhìn từ góc độ quản trị, mọi nỗ lực chuyển đổi sẽ khó đạt kết quả thực chất nếu thiếu đi nền tảng đổi mới sáng tạo từ bên trong. 

Theo Tiến sĩ Phạm Thị Hồng Phượng, Trưởng làng Công nghệ sinh thái (Ecotech)-Techfest Việt Nam, chuyên gia Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia, đổi mới phải bắt đầu từ việc định hình văn hóa doanh nghiệp và thiết lập cơ chế khuyến khích sáng tạo. Việc ứng dụng công nghệ phải trở thành hoạt động thường nhật để nâng cấp năng lực cạnh tranh. 

Tiến sĩ Phạm Thị Hồng Phượng cũng đề xuất các địa phương cần tập trung xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo thực chất bằng cách kết nối mạng lưới cố vấn chuyên sâu để dẫn dắt các doanh nghiệp trong các lĩnh vực thế mạnh như nông nghiệp công nghệ cao và du lịch xanh.

Có thể thấy, nỗ lực đơn lẻ của từng doanh nghiệp là chưa đủ. Cần có sự phối hợp quyết liệt từ chính sách của Trung ương đến sự năng động của chính quyền địa phương. Việc giải quyết đồng bộ từ hạ tầng, tài chính đến tư duy liên kết vùng sẽ giúp doanh nghiệp vùng ĐBSCL vượt qua thách thức, tạo nền tảng vững chắc để thâm nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.