Dấu mốc 1.000 tỷ USD nhưng doanh nghiệp nội "lép vế"
Theo ước tính của Bộ Công Thương, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 10 tháng năm 2026 đạt 1.010,6 tỷ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm 2025, chính thức vượt mốc 1.000 tỷ USD. Đáng chú ý, xuất khẩu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh, với kim ngạch ước đạt 499 tỷ USD trong 10 tháng, tăng 27,4%. Với đà tăng trưởng hiện tại, xuất khẩu cả năm 2026 được dự báo tăng trên 25%, vượt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 15-16% do Chính phủ đề ra.
 |
| Hoạt động sản xuất của Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel). Ảnh do Viettel cung cấp |
“Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam đến tháng 10 đã chạm ngưỡng 1.000 tỷ USD, trở thành một trong những quốc gia có kim ngạch xuất khẩu trong tốp 20 thế giới. Điều này càng khẳng định cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của Việt Nam, vai trò của Việt Nam trên thị trường quốc tế”, chuyên gia kinh tế Trần Hoàng Ngân đánh giá.
Về cán cân thương mại, tháng 10 ước xuất siêu 6,8 tỷ USD, đánh dấu tháng thứ hai liên tiếp đạt thặng dư thương mại, đưa mức nhập siêu lũy kế 10 tháng xuống còn khoảng 12,7 tỷ USD. Diễn biến này cho thấy cán cân thương mại đang có những chuyển biến tích cực, dù kết quả lũy kế vẫn ghi nhận mức nhập siêu.
Việt Nam hiện có quan hệ thương mại với 237 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó, 36 thị trường xuất khẩu và 31 thị trường nhập khẩu có quy mô giao dịch trên 1 tỷ USD. Mạng lưới đối tác ngày càng mở rộng, cùng khả năng tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất và cung ứng quốc tế, đang tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam tăng tốc mở rộng quy mô thương mại. Số liệu của Cục Hải quan, Bộ Tài chính cho thấy, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của nước ta năm 2007 đạt 100 tỷ USD, năm 2019 đạt 500 tỷ USD, đến tháng 10-2026 đã vượt mốc 1.000 tỷ USD. Như vậy, nếu mất khoảng 12 năm để kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng từ 100 tỷ USD lên 500 tỷ USD, Việt Nam chỉ cần thêm 7 năm để chinh phục cột mốc 1.000 tỷ USD. Hiện Việt Nam xếp thứ 18 thế giới về xuất khẩu, thứ 20 thế giới về nhập khẩu và đứng thứ hai trong ASEAN, sau Singapore.
 |
| Hoạt động sản xuất tại Nhà máy Z129 (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng). Ảnh: MẠNH HƯNG |
Quan trọng hơn, cơ cấu xuất khẩu đang từng bước chuyển dịch theo hướng gia tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến, chế tạo, điện tử và công nghệ cao. Nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục giữ vai trò chủ lực, chiếm 87,4% tổng kim ngạch xuất khẩu, cho thấy sự chuyển biến không chỉ về quy mô mà còn về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu. Xuất khẩu cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực tại nhiều thị trường lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Hàn Quốc, ASEAN.
Tuy nhiên, đằng sau những con số tăng trưởng ấn tượng và sự chuyển dịch tích cực về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, hoạt động thương mại của Việt Nam vẫn còn những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Quy mô xuất khẩu ngày càng mở rộng nhưng giá trị gia tăng tạo ra trong nước chưa tương xứng cho thấy tăng trưởng về lượng vẫn chưa đi đôi với nâng cao chất lượng và năng lực nội sinh của nền kinh tế. Thực tế cho thấy, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn đang giữ vai trò chi phối trong hoạt động xuất, nhập khẩu. Trong 10 tháng, khối doanh nghiệp FDI đạt trị giá xuất, nhập khẩu 778 tỷ USD, chiếm 77,5% tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của cả nước và tăng 37% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, tỷ trọng đóng góp của khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn còn khiêm tốn, phản ánh khoảng cách về năng lực sản xuất, công nghệ, khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng quốc tế. Đây cũng là thách thức lớn khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển thương mại với mục tiêu không chỉ xuất khẩu nhiều hơn mà còn giữ lại được nhiều giá trị hơn trong nước.
Thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ, tăng liên kết FDI
Việt Nam có nhiều lợi thế quan trọng để thúc đẩy xuất khẩu, gồm môi trường chính trị và kinh tế ổn định, vị trí địa lý thuận lợi cho logistics và mạng lưới 18 hiệp định thương mại tự do (FTA). Đây là những điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp mở rộng thị trường, tận dụng ưu đãi thương mại và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
 |
| Hoạt động sản xuất tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Hòa Phát. Ảnh: TRẦN NGHI |
Dự thảo Chiến lược xuất, nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Bộ Công Thương không chỉ đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030 mà còn hướng tới nâng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của khu vực doanh nghiệp trong nước trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước lên khoảng 28-30% vào năm 2030 và 38-40% vào năm 2045.
Những mục tiêu này cho thấy định hướng phát triển xuất, nhập khẩu trong giai đoạn tới không đơn thuần là gia tăng lượng hàng hóa đưa ra thị trường quốc tế, quan trọng hơn là nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và gia tăng hàm lượng giá trị nội địa trong từng sản phẩm. Theo ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, câu hỏi đặt ra không chỉ là Việt Nam có thể xuất khẩu thêm bao nhiêu mà còn là doanh nghiệp Việt Nam sẽ giữ vai trò nào trong chuỗi giá trị toàn cầu, sở hữu những thương hiệu nào và có mức độ hiện diện ra sao trên thị trường quốc tế.
Để giải quyết những vấn đề này, theo ông Nguyễn Anh Sơn, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, thời gian tới cần tập trung phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, nhất là trong các ngành có tiềm năng tạo ra giá trị gia tăng lớn như điện tử, bán dẫn, cơ khí chính xác, thiết bị điện, công nghiệp chế biến. Cùng với đó, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam từng bước trở thành nhà cung cấp trong chuỗi sản xuất toàn cầu, thay vì chỉ tham gia ở các công đoạn có giá trị gia tăng thấp. Đặc biệt, trong thu hút đầu tư nước ngoài, cần tiếp tục định hướng các dự án có hàm lượng công nghệ cao, có cam kết phát triển hệ sinh thái cung ứng trong nước, có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa đối với nền kinh tế.
 |
| Hoạt động sản xuất tại Tổng công ty Cổ phần May 10. Ảnh: MINH ĐỨC |
Thời gian tới, Bộ Công Thương xác định đẩy mạnh xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường, nâng cao năng lực tuân thủ là những nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, tập trung khai thác hiệu quả các FTA đã ký kết, mở rộng các thị trường mới; đồng thời nâng cao năng lực cảnh báo sớm về các vụ việc phòng vệ thương mại, rào cản thuế quan, tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc, quy định xuất xứ. Cùng với đó, cần đẩy mạnh các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu, minh bạch hóa chuỗi cung ứng.
Cột mốc 1.000 tỷ USD không chỉ là dấu ấn về quy mô thương mại mà còn mở ra một giai đoạn phát triển mới cho hoạt động xuất, nhập khẩu của Việt Nam. Trong giai đoạn này, thước đo thành công sẽ không chỉ nằm ở tốc độ tăng trưởng kim ngạch mà còn ở khả năng nâng cao giá trị gia tăng trong nước, phát triển đội ngũ doanh nghiệp nội địa đủ sức cạnh tranh, từng bước khẳng định vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.