Gia tăng tình trạng hàng ngoại đội lốt hàng nội

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu với nền kinh tế toàn cầu, việc gian lận xuất xứ hàng hóa không những gây hậu quả trực tiếp đến sản phẩm cụ thể, ảnh hưởng đến người tiêu dùng mà còn tác động không nhỏ đến ngành hàng trong nước, làm giảm uy tín và tính cạnh tranh của hàng sản xuất tại Việt Nam.

Theo Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý thị trường, Bộ Công Thương Trần Hữu Linh: Trên thị trường tồn tại khá phổ biến hiện tượng gian lận xuất xứ, hàng hóa không sản xuất tại Việt Nam nhưng vẫn gắn mác hàng Việt Nam để trốn thuế. Các mặt hàng chủ yếu là rau, củ, quả, hàng dệt may, giày dép, đồ chơi trẻ em, hàng gia dụng... Nguyên nhân là do xu hướng người Việt cũng như nhiều nước trên thế giới chuộng hàng Việt nhiều hơn. Hơn nữa, lợi dụng Việt Nam liên tiếp tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) dẫn đến nhiều hàng hóa được hưởng thuế suất ưu đãi làm các đối tượng nảy sinh hành vi gian lận để lẩn tránh, trốn thuế hay thuận lợi cho việc phân phối, tiêu thụ.

leftcenterrightdel
Nhãn lồng Hưng Yên được đóng vào túi lưới có gắn nhãn mác, tem xuất xứ chỉ dẫn địa lý. Ảnh: NGUYỄN KIỂM. 

Còn theo Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) Lê Triệu Dũng: Do nhiều nước áp dụng cơ chế cho doanh nghiệp (DN) tự chứng nhận xuất xứ và tự chịu trách nhiệm về ghi nước xuất xứ trên nhãn hàng hóa nên việc tuân thủ nguồn gốc xuất xứ hàng hóa dựa trên ý thức của DN. Bên cạnh mặt tích cực là tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, quy định này cũng bị nhiều DN lợi dụng để thực hiện hành vi gian lận xuất xứ hàng hóa. Đề cập đến vấn đề này, theo Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Thanh Hải: Cho tới nay, với hàng hóa sản xuất, lưu thông trong nước, hiện chưa có quy định như thế nào thì được gắn nhãn “hàng hóa của Việt Nam” hay “hàng hóa sản xuất tại Việt Nam”. Do đó, yêu cầu cấp thiết phải có quy định rõ ràng về xuất xứ hàng hóa để bảo đảm minh bạch, quyền lợi cho người tiêu dùng, công bằng cho DN và thương hiệu hàng hóa Việt Nam. Nhãn hàng hóa dùng để giúp người tiêu dùng nhận biết và lấy làm căn cứ để chọn lựa, sử dụng các sản phẩm; là đại diện cho nhà sản xuất, kinh doanh nói lên sự uy tín trong việc cung cấp các sản phẩm chất lượng tới khách hàng. Không những thế, nhãn hàng hóa còn được các cơ quan chức năng, người dân sử dụng để truy xuất nguồn gốc hàng hóa, kiểm tra, kiểm soát thị trường.

Thực tế cho thấy, do thiếu vắng các quy định về việc như thế nào là “hàng hóa của Việt Nam” hay “hàng hóa sản xuất tại Việt Nam” khiến nhiều tổ chức và cá nhân lúng túng khi muốn ghi chính xác nước xuất xứ trên nhãn sản phẩm. Đáng lo ngại, tình trạng mập mờ trong các quy định về ghi nhãn hàng hóa tạo ra các kẽ hở pháp lý cho một số DN lợi dụng để lách luật, gian lận thương mại. Có trường hợp hàng hóa được nhập khẩu từ nước ngoài hay một số mặt hàng dù chỉ trải qua các công đoạn gia công, lắp ráp, chế biến đơn giản tại Việt Nam nhưng cũng gắn nhãn "sản xuất tại Việt Nam" khiến người tiêu dùng bức xúc, nhưng các cơ quan chức năng lại không có căn cứ để phân xử.

Lấp "lỗ hổng" pháp lý

Nhằm tạo hành lang pháp lý với mục tiêu phòng, chống gian lận thương mại về xuất xứ hàng hóa, bảo vệ người tiêu dùng, góp phần quảng bá thương hiệu hàng hóa Việt Nam, Bộ Công Thương vừa ban hành dự thảo thông tư quy định thế nào là hàng hóa của Việt Nam và thế nào là hàng hóa sản xuất tại Việt Nam để lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của người dân, DN. Theo đó, các trường hợp được coi là hàng hóa của Việt Nam, gồm: Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam; hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam nhưng trải qua công đoạn gia công, chế biến cuối cùng tại Việt Nam làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa.

Trong dự thảo thông tư, Bộ Công Thương cũng quy định, hàng hóa gia công, chế biến đơn giản sẽ không được công nhận là “hàng hóa của Việt Nam” hay “hàng hóa sản xuất tại Việt Nam”. Theo đó, hàng hóa có công đoạn gia công, chế biến đơn giản là hàng hóa chỉ trải qua một hoặc kết hợp nhiều công đoạn, như: Bảo quản hàng hóa trong quá trình vận chuyển và lưu kho; lau bụi, sàng lọc, chọn lựa, phân loại, sơn. Cùng với đó là các hành vi thay đổi bao bì đóng gói và tháo gỡ, lắp ghép các lô hàng, đóng gói bao bì đơn giản; dán lên sản phẩm hoặc bao gói sản phẩm nhãn hiệu hay các dấu hiệu phân biệt tương tự; trộn đơn giản các sản phẩm; lắp ráp đơn giản các bộ phận để tạo nên sản phẩm hoàn chỉnh…

Chỉ ra điểm mấu chốt trong việc một sản phẩm được xác định là có xuất xứ Việt Nam, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Vũ Tiến Lộc cho rằng: "Một sản phẩm dù 100% nguyên liệu nước ngoài nhưng được DN trong nước thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng thì vẫn có thể được xem là có xuất xứ Việt Nam. Nếu chỉ dùng vài cái ốc vít gắn cái nọ vào cái kia để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh thì không được xem là chế biến cơ bản, không được xem là xuất xứ Việt Nam. Nếu DN nhập hàng nguyên chiếc từ nước ngoài về rồi dán nhãn “sản xuất tại Việt Nam” thì đó là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, lừa dối người tiêu dùng”. Còn Tổng giám đốc Tổng công ty May 10 Thân Đức Việt góp ý: "Nên có quy định rất rõ ràng về tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu bao nhiêu phần trăm thì gọi là hàng Việt Nam để các DN xác định được và tuân thủ cho đúng".

Không phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp

Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh nhấn mạnh: Về vấn đề ghi nhãn xuất xứ Việt Nam trên hàng hóa, Bộ Công Thương sẽ làm hết sức thận trọng, lắng nghe ý kiến mọi tầng lớp nhân dân, đánh giá tác động nhiều chiều để các biện pháp này được thực hiện khả thi.

Bộ Công Thương cho biết, về nguyên tắc, thông tư sẽ không làm phát sinh thêm chi phí cho DN bởi ghi nhãn hàng hóa và công bố nước xuất xứ trên nhãn hàng hóa từ lâu đã là yêu cầu bắt buộc theo quy định của Nghị định số 43/2017/NĐ-CP về nhãn hàng hóa. Thông tư chỉ giúp các tổ chức, cá nhân có căn cứ để thực hiện đúng yêu cầu của Nghị định 43, giúp loại bỏ các trường hợp vô tình hay cố tình vi phạm thông tin về nước xuất xứ. Các DN chân chính sẽ không phải đối diện với nguy cơ cáo buộc "gian lận xuất xứ", tránh được rủi ro kiện tụng và mất uy tín với người tiêu dùng. Ngoài ra, thông tư cũng giúp loại bỏ dần tình trạng hàng nhập khẩu nhập nhèm "đội lốt" hàng Việt Nam như trong thời gian qua. Thông tư không quy định bất kỳ một thủ tục hành chính mới nào mà người dân và DN phải tuân thủ.

Tạo ra hàng lang pháp lý để ngăn chặn tình trạng gian lận xuất xứ hàng hóa là việc làm cấp thiết. Nhìn chung, các nước tiên tiến đều có quy định cụ thể về ghi nhãn xuất xứ hàng hóa nhằm mục tiêu bảo hộ ngành hàng sản xuất tại nước đó nói chung và bảo hộ thương hiệu của sản phẩm cụ thể. Tiêu chí và điều kiện ghi nhãn xuất xứ có thể được quy định chung, như “hàng hóa của nước A” hoặc “hàng hóa sản xuất tại nước A”;  hoặc một số quốc gia quy định chi tiết đến từng công đoạn sản xuất, gia công chứa giá trị gia tăng cụ thể, như “thiết kế bởi/thiết kế tại…”, “lắp ráp tại…”, “đóng gói tại…”. Bên cạnh đó, để ngăn chặn tình trạng này, ở góc độ DN, mỗi đơn vị phải có biện pháp tự bảo vệ mình bằng cách đăng ký nhãn hiệu sản phẩm, quyền sở hữu trí tuệ, minh bạch các thông tin về tiêu chuẩn, chất lượng, sản phẩm, kênh phân phối.

VŨ DUNG