Từ lợi thế biển đến tư duy quốc gia biển mạnh

Việt Nam là một quốc gia biển. Điều đó không chỉ được khẳng định bằng địa lý, mà còn được chứng thực bằng lịch sử, văn hóa và hành trình dựng nước, giữ nước của dân tộc. Biển Đông có vị trí đặc biệt quan trọng về địa chiến lược, chính trị, kinh tế, tự nhiên đối với nước ta; từ biển, cha ông ta mở mang giao thương, tiếp nhận văn minh, khẳng định chủ quyền, bảo vệ bờ cõi và nuôi dưỡng những cộng đồng cư dân mang trong mình bản lĩnh phóng khoáng, kiên cường của người Việt ven biển.

Nhìn từ chiều sâu ấy, thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc phải làm rõ hình hài của một quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI có ý nghĩa rất lớn. Đó không phải là một cách nói hình ảnh, mà là một yêu cầu chiến lược. Bởi một quốc gia biển mạnh không thể chỉ được đo bằng chiều dài bờ biển, số lượng cảng biển, sản lượng khai thác thủy sản hay doanh thu du lịch ven biển. Quốc gia biển mạnh trước hết phải là quốc gia có tầm nhìn biển, có năng lực quản trị biển, có khoa học công nghệ biển, có kinh tế biển xanh, có văn hóa biển giàu sức sống, có cư dân biển được bảo đảm sinh kế và có thế trận quốc phòng - an ninh vững chắc từ biển.

Thực tế cho thấy, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hợp tác quốc tế và nâng cao đời sống người dân vùng biển. Tuy nhiên, đến nay Việt Nam vẫn chưa tận dụng, khai thác hết tiềm năng, lợi thế chiến lược của biển để phát triển bền vững đất nước. Nó cho thấy giữa tiềm năng và hiện thực vẫn còn khoảng cách; giữa lợi thế tự nhiên và năng lực phát triển vẫn còn độ vênh; giữa khát vọng trở thành quốc gia biển mạnh và hệ thống thể chế, hạ tầng, công nghệ, nguồn nhân lực, mô hình quản trị vẫn còn nhiều điểm cần tiếp tục hoàn thiện.

Nước ta có tiềm năng lớn để phát triển du lịch từ văn hóa biển, đảo. Ảnh minh họa: qdnd.vn 

Trên thế giới, các quốc gia phát triển mạnh hầu hết đều biết dựa vào biển để mở rộng không gian phát triển. Tất cả các cường quốc, nền kinh tế lớn nhất trên thế giới đều là quốc gia có biển, trừ Thụy Sĩ; nhiều nước coi tiến ra biển, làm chủ biển, bảo vệ và khai thác, sử dụng bền vững không gian biển là một đại chiến lược phát triển quốc gia, trong đó “kinh tế biển xanh” là trụ cột then chốt. Nhìn vào kinh nghiệm ấy, có thể thấy biển không chỉ là “mặt tiền” của quốc gia, mà còn là cánh cửa để quốc gia kết nối với thế giới, nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng không gian sinh tồn và tạo lập vị thế trong trật tự phát triển mới.

Vì vậy, điều quan trọng hiện nay là phải chuyển từ tư duy khai thác biển sang tư duy kiến tạo không gian phát triển biển quốc gia. Nếu chỉ nhìn biển như nơi khai thác tài nguyên, chúng ta dễ rơi vào cách tiếp cận ngắn hạn, phân tán, cục bộ, thậm chí đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng. Nhưng nếu nhìn biển như một không gian phát triển tổng hợp, chúng ta sẽ thấy ở đó có cả kinh tế, văn hóa, môi trường, khoa học công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và sinh kế của hàng triệu người dân. Khi ấy, mỗi khu kinh tế ven biển, mỗi đô thị biển, mỗi cảng nước sâu, mỗi ngư trường, mỗi đảo tiền tiêu đều phải được đặt trong một quy hoạch tổng thể, một tầm nhìn dài hạn và một hệ giá trị phát triển bền vững.

Một hình hài quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI, theo tôi, phải có ít nhất năm đường nét căn bản. Đó là nền kinh tế biển xanh, hiện đại, có năng suất cao và giá trị gia tăng lớn. Đó là hệ sinh thái biển được bảo vệ, phục hồi, coi môi trường không phải là phần phụ, mà là nền tảng của phát triển. Đó là hệ thống đô thị biển, cảng biển, logistics, năng lượng tái tạo, du lịch biển, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao được tổ chức theo chuỗi giá trị. Đó là mô hình quản trị biển dựa trên dữ liệu, chuyển đổi số, bản đồ số đại dương, trí tuệ nhân tạo và năng lực dự báo. Và đó là một nền văn hóa biển mạnh mẽ, trong đó cư dân biển không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách, mà là chủ thể sáng tạo, bảo vệ và làm giàu từ biển.

Kinh tế biển xanh, Net Zero và văn hóa trách nhiệm với đại dương

Kinh tế biển xanh là xu thế tất yếu, bởi phát triển kinh tế biển không thể tiếp tục dựa vào khai thác thô, khai thác tận diệt hoặc mở rộng không gian xây dựng ven biển bằng mọi giá. Kinh tế biển xanh phải dựa trên bảo tồn hệ sinh thái, đa dạng sinh học và giảm thiểu tác động môi trường; đồng thời phát triển các ngành có khả năng tạo giá trị cao như năng lượng tái tạo biển, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, du lịch biển bền vững và thông minh.

Đây chính là điểm gặp gỡ giữa tư duy phát triển hiện đại và văn hóa ứng xử truyền thống của người Việt với thiên nhiên. Cha ông ta sống với biển bằng sự tôn trọng, biết ơn và nương tựa. Những lễ hội cầu ngư, những tục thờ cá Ông, những tri thức dân gian về con nước, luồng cá, mùa gió, bến bãi không chỉ là phong tục, mà còn là hệ thống đạo lý sinh thái của cư dân biển. Hôm nay, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm đại dương, suy giảm nguồn lợi thủy sản, nước biển dâng và cạnh tranh chiến lược trên biển diễn biến phức tạp, đạo lý ấy cần được nâng lên thành chính sách, thành công nghệ, thành quy hoạch, thành chuẩn mực quản trị và thành trách nhiệm xã hội.

Kinh tế biển xanh, trước hết, phải được cụ thể hóa bằng những ngành mũi nhọn mới. Tài liệu thảo luận đề nghị cần có chiến lược quốc gia về điện gió ngoài khơi, với lộ trình và cơ chế đặc thù để thu hút đầu tư, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp phụ trợ; coi điện gió ngoài khơi không chỉ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và mục tiêu Net Zero, mà còn tạo ra cực tăng trưởng mới. Đây là gợi mở rất quan trọng. Biển không chỉ cho chúng ta cá, dầu khí, bãi tắm hay tuyến hàng hải; biển còn có thể cho chúng ta năng lượng sạch, công nghiệp mới, việc làm mới, công nghệ mới và vị thế mới trong chuỗi giá trị xanh toàn cầu.

Cùng với đó, nuôi trồng thủy sản cũng cần chuyển mạnh từ khai thác tự nhiên sang phát triển bền vững, ứng dụng công nghệ tuần hoàn, giảm ô nhiễm môi trường và xây dựng thương hiệu thủy sản “xanh” đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Du lịch biển cũng không thể chỉ chạy theo số lượng khách, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, mà phải phát triển theo hướng sinh thái, cộng đồng, thông minh, gắn với bảo vệ môi trường và bảo tồn văn hóa biển. Một bãi biển đẹp bị bê tông hóa quá mức, một rạn san hô bị tổn thương, một làng chài bị xóa khỏi ký ức đô thị không chỉ là mất mát môi trường, mà còn là mất mát văn hóa, mất mát sức hấp dẫn lâu dài của điểm đến.

Một trụ cột khác cần được nhấn mạnh là gắn phát triển kinh tế biển với mục tiêu Net Zero. Mọi hoạt động kinh tế trên biển đều phải hướng tới giảm phát thải carbon; xanh hóa vận tải biển và dịch vụ cảng; khuyến khích tàu biển sử dụng nhiên liệu sạch; đầu tư hệ thống cung cấp điện bờ cho tàu cập cảng; phát triển cảng xanh, áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải. Đây là cách tiếp cận rất đúng với xu thế quốc tế. Trong tương lai không xa, năng lực cạnh tranh của một cảng biển, một hãng tàu, một khu kinh tế ven biển sẽ không chỉ nằm ở chi phí hay tốc độ, mà còn ở mức độ xanh, khả năng giảm phát thải và tuân thủ các chuẩn mực môi trường toàn cầu.

Đặc biệt, cần nhìn nhận đầy đủ vai trò của các “bể chứa carbon xanh” như rừng ngập mặn, cỏ biển, rạn san hô. Đây là những bể chứa carbon tự nhiên cực kỳ hiệu quả, cần có chính sách đặc thù để bảo vệ, phục hồi, mở rộng diện tích và nghiên cứu đưa vào hệ thống hạch toán carbon quốc gia. Nói cách khác, bảo vệ rừng ngập mặn không chỉ là bảo vệ môi trường. Đó còn là bảo vệ sinh kế, bảo vệ đa dạng sinh học, phòng chống thiên tai, tạo nguồn lực carbon, phát triển du lịch sinh thái và gìn giữ những “lá chắn xanh” của quốc gia trước biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, để kinh tế biển xanh không dừng lại ở khẩu hiệu, chúng ta cần một mô hình quản trị đủ mạnh và đủ hiện đại. Phải có dữ liệu biển quốc gia, quy hoạch không gian biển, cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng, liên địa phương; phải có hệ thống giám sát môi trường biển, kiểm soát xả thải, kiểm soát khai thác thủy sản, bảo vệ nguồn lợi và xử lý nghiêm các hành vi làm tổn thương đại dương. Phải phát triển khoa học công nghệ biển, đào tạo nguồn nhân lực biển chất lượng cao, hình thành các trung tâm nghiên cứu đại dương, thúc đẩy hợp tác quốc tế và huy động mạnh mẽ nguồn lực tư nhân thông qua tài chính xanh, trái phiếu xanh, quỹ đầu tư xanh cho năng lượng tái tạo biển, nuôi trồng bền vững, xử lý ô nhiễm môi trường biển.

Nhưng sâu xa hơn, phát triển biển phải bắt đầu từ văn hóa trách nhiệm. Trách nhiệm của Nhà nước là kiến tạo thể chế, quy hoạch, hạ tầng và môi trường phát triển minh bạch. Trách nhiệm của doanh nghiệp là không đánh đổi hệ sinh thái biển lấy lợi nhuận ngắn hạn. Trách nhiệm của địa phương là không phát triển manh mún, không cục bộ, không biến bờ biển thành tài sản riêng của một số dự án. Trách nhiệm của cộng đồng là gìn giữ biển như gìn giữ ngôi nhà chung. Trách nhiệm của mỗi công dân là hiểu rằng chủ quyền biển đảo, môi trường biển, văn hóa biển và sinh kế biển đều là một phần máu thịt của Tổ quốc.

Một quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI, vì vậy, phải là quốc gia biết làm giàu từ biển mà không làm nghèo biển; biết khai thác biển mà không tận diệt biển; biết xây dựng những đô thị biển hiện đại mà không xóa đi ký ức làng chài; biết phát triển cảng biển, logistics, năng lượng, du lịch mà vẫn giữ được rừng ngập mặn, rạn san hô, bãi triều, cồn cát, lễ hội biển và cộng đồng cư dân biển. Biển không chỉ là tài nguyên. Biển là không gian sống. Biển là chủ quyền. Biển là văn hóa. Biển là tương lai.

Từ thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, có thể thấy yêu cầu đặt ra hôm nay không chỉ là tổng kết một nghị quyết, mà là chuẩn bị một tầm nhìn mới cho Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Khi đất nước hướng tới các mục tiêu chiến lược 2030, 2045 và xa hơn, biển phải trở thành một trong những không gian trung tâm của khát vọng hùng cường. Muốn vậy, chúng ta cần biến tiềm năng biển thành năng lực biển, biến lợi thế biển thành sức mạnh biển, biến tình yêu biển đảo thành hành động cụ thể, biến kinh tế biển xanh thành con đường phát triển bền vững.

Nếu làm được điều đó, hình hài của một quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI sẽ không còn là một khái niệm xa xôi. Nó sẽ hiện lên trong những cảng xanh hiện đại, những vùng điện gió ngoài khơi, những làng chài trù phú, những khu du lịch sinh thái văn minh, những rừng ngập mặn được hồi sinh, những đô thị biển đáng sống, những con tàu vươn khơi bền bỉ, những người lính giữ đảo kiên cường, những thế hệ trẻ lớn lên với tri thức đại dương và tình yêu Tổ quốc. Và khi ấy, biển sẽ không chỉ ở phía trước đất nước, mà sẽ ở trong chính hình hài phát triển mới của Việt Nam: Xanh hơn, mạnh hơn, nhân văn hơn và vững vàng hơn trước mọi sóng gió của thời đại.