Thầy sinh ra và lớn lên ở một huyện nghèo ven bờ sông Đáy. Cuộc sống khó khăn không đánh gục được ý chí và quyết tâm vươn lên, thầy thi đỗ vào đại học. Rồi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, thầy gác lại sách bút lên đường chiến đấu. Hòa bình lập lại, thầy trở về quê hương làm giáo viên viết tiếp giấc mơ còn dang dở.

Đến khóa học của chúng tôi, nhà trường phân công thầy làm chủ nhiệm lớp cũng là người phụ trách môn Văn. Ngày hôm đó, như bao lần khác, thầy lên lớp với chiếc áo sờn vai màu xanh trứng sáo. Tôi mải nói chuyện với cậu bạn cùng bàn không tập trung bài học. Bị thầy nhắc nhở, tôi nói nhỏ với bạn: “Chắc thầy khó tính quá nên không cô nào dám đồng ý về làm vợ”!

Dường như nghe thấy chúng tôi nói chuyện, thầy sững lại nhìn tôi một lúc nhưng không nói gì. Thầy lặng lẽ quay lên bục giảng rồi chuyển nội dung khác.

Bẵng đi một thời gian, nhà trường tổ chức kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam, mỗi lớp chuẩn bị báo tường, có lưu bút của giáo viên chủ nhiệm và học sinh. Tôi cùng nhóm bạn đến nhà nhờ thầy hướng dẫn.  

Thầy đang tỉa mấy cây cảnh trước hiên. Thấy chúng tôi, thầy vẫy vào nhà đợi. Thầy sống một mình trong ngôi nhà cấp bốn cũ kỹ, trên tường đầy những vết nứt, vết vôi bở. Đồ đạc trong nhà không có gì đáng giá, bộ bàn ghế đã cũ nhưng sạch sẽ, bàn làm việc gọn gàng và giá sách chứa đầy các tác phẩm văn học.

Bước lại gần bàn làm việc của thầy, tôi tiện tay lấy một cuốn sách trên giá. Một tờ giấy rơi ra khỏi cuốn sách, nhẹ nhàng rơi xuống nền đất. Nhặt tờ giấy lên, tay tôi khựng lại khi nhìn thấy dòng chữ: “Giấy chứng nhận người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học”. Tôi nhìn lại lần nữa, trên tờ giấy đúng là tên thầy giáo của chúng tôi. Thầy đã không kể cho chúng tôi phía sau nụ cười hiền hậu, khuôn mặt thể hiện sự an nhàn, thảnh thơi ấy là một cuộc đời “dông bão” và buồn thương. Có lẽ nào đây chính là lý do đến giờ thầy vẫn sống một mình?

Đến giờ tôi mới nhận ra sau khi trở về từ chiến tranh, thầy phải mang trong mình bệnh tật ảnh hưởng bởi chất độc oan nghiệt mà kẻ thù gieo rắc trên chiến trường. Thầy giữ kín nỗi buồn về sự khuyết thiếu trong lòng, còn niềm vui, nụ cười và những bài giảng đầy say mê, nhiệt huyết thầy truyền cho cả đám học trò chúng tôi. Trong đôi mắt sáng ngời của thầy là niềm tự hào về đất nước, về người chiến sĩ đã từng hy sinh tuổi thanh xuân để cầm súng nơi chiến trường mưa bom bão đạn.

Cả buổi chiều ngày hôm ấy tôi cứ mãi suy nghĩ về khoảng lặng phía sau thầy mà đến giờ mới biết. Chất độc oan nghiệt ấy đã chặn đứng cánh cửa bước đến hạnh phúc lứa đôi của thầy, vậy mà tôi còn chạm vào nỗi đau không bao giờ lành ấy. Hối hận với câu nói đùa vô tư của mình trên lớp nhưng vì nỗi sợ ngốc nghếch của tuổi trẻ, tôi không dám xin lỗi thầy, cứ giấu mãi bí mật đến sau này.

Hoàn thành công việc của cơ quan, tôi xin được ít thời gian về thăm thầy. Cánh cửa khép hờ quen thuộc, phía trong sân vẫn là dáng người nhỏ nhắn ấy đang tỉ mẩn chăm sóc những chậu cây cảnh. Tôi đẩy cửa bước vào, cất tiếng gọi: “Thầy ơi!”.

NGUYÊN ĐỨC