Chuyển dịch nhu cầu nhân lực văn hóa
Vừa qua, để kết thúc môn học Các ngành công nghiệp văn hóa, Khoa Văn hóa học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức Xưởng thực hành công nghiệp văn hóa. Nếu trước đây phải viết một tiểu luận “lý thuyết chay” dài cỡ chục trang thì nay, sinh viên trực tiếp sáng tạo các sản phẩm công nghiệp văn hóa. Ban giám khảo (trong đó có đại diện doanh nghiệp văn hóa) chấm điểm, phản biện các sản phẩm như một cuộc thi sáng tạo, vượt lên mục đích lấy điểm kết thúc môn học. TS Trần Thị Thủy, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đồng thời là giảng viên đồng cơ hữu của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, cho biết: Tổ chức Xưởng thực hành công nghiệp văn hóa giúp cho các sinh viên tự tin vào khả năng sáng tạo, làm quen với quy trình tạo ra sản phẩm công nghiệp văn hóa. Các dự án cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện, phấn đấu thương mại hóa mới đạt đến thành công trọn vẹn.
Mô hình Xưởng thực hành công nghiệp văn hóa không chỉ là một cách làm sáng tạo trong thực hiện phương châm học đi đôi với hành mà còn là nỗ lực đổi mới để bắt kịp nhu cầu thị trường lao động, đồng thời kết nối các sinh viên và doanh nghiệp. Mô hình này chỉ là bước đầu, cần có những mô hình, cách làm được đầu tư chuyên sâu hơn để có nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội. Bởi lẽ, đang có sự chuyển dịch nhu cầu nhân lực văn hóa do các yếu tố chi phối: Sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa và quá trình chuyển đổi số mạnh mẽ khiến không gian mạng trở thành môi trường văn hóa mới.
 |
| Ngày hội việc làm năm 2026 do Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức kết nối sinh viên và doanh nghiệp, nhà tuyển dụng. Ảnh: PHƯƠNG THẢO |
Trước đây, nhắc đến nhân lực văn hóa sẽ nghĩ ngay đến những cán bộ quản lý văn hóa, nghệ sĩ, người làm việc tại các thiết chế văn hóa. Tất nhiên, đội ngũ này vẫn luôn cần được đào tạo, bồi dưỡng để bảo đảm Nhà nước đáp ứng các dịch vụ công trong lĩnh vực văn hóa. Song số lượng nhân lực ở khu vực công là giới hạn. Ngược lại, nhu cầu nhân lực văn hóa ở khu vực tư nhân không ngừng tăng lên. Đến hết năm 2025, tổng lực lượng lao động trong các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam ước tính từ 2,2 triệu đến 2,5 triệu người; duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân đạt khoảng 7,4%/năm. Mục tiêu đến năm 2045, các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đóng góp 9% GDP của đất nước, lao động chiếm tỷ trọng 8% trong tổng lực lượng lao động của nền kinh tế.
Bên cạnh số lượng, thị trường lao động đang đòi hỏi chất lượng nhân lực văn hóa với hàng loạt kỹ năng mới mẻ. Đặc điểm nhân lực văn hóa hiện nay phải có hàm lượng tri thức và năng lực sáng tạo cao; năng lực nghề nghiệp được hình thành không chỉ qua đào tạo chính quy mà còn thông qua thực hành, trải nghiệm và quá trình sáng tạo. Công nghiệp văn hóa đã được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, bắt buộc sản phẩm phải mang về lợi nhuận bên cạnh chứa đựng giá trị tinh thần, xã hội. Như vậy, có ý tưởng sáng tạo sản phẩm là chưa đủ mà ý tưởng đó phải có tiềm năng thương mại hóa. Cho nên, nhân lực ngành văn hóa cần được trang bị tri thức liên ngành, kết hợp giữa văn hóa, nghệ thuật với công nghệ, kinh doanh, quản trị, truyền thông và pháp luật.
Nhu cầu xã hội đặt ra áp lực đổi mới đào tạo nhân lực văn hóa và nhiệm vụ này không thể là của riêng nhà trường. Kiến tạo nguồn nhân lực là quá trình liên tục từ dự báo nhu cầu, đào tạo, thực hành nghề nghiệp, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo... Tính chất này tạo ra nhu cầu khách quan về hợp tác giữa Nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp.
Các chuyên gia trong và ngoài nước đều đánh giá: Việt Nam có nguồn nhân lực văn hóa chất lượng, với cơ cấu trẻ, tiềm năng sáng tạo lớn; song chưa phát huy hết dư địa phát triển. Một trong những điểm nghẽn chính là chưa thúc đẩy hợp tác ba bên một cách bền chặt.
Ba bên “cùng thắng”
Về mặt lý thuyết, ai cũng thấy rõ hợp tác Nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp mang lại lợi ích to lớn nhưng quá trình gắn kết lại diễn ra chậm, thiếu hiệu quả. Mấu chốt ở đây là thể chế, chính sách chưa xác lập rõ địa vị, quyền và trách nhiệm của từng chủ thể, cơ chế phối hợp, lợi ích hợp tác.
Các cơ quan chức năng cần căn cứ vào các bộ luật khung để có văn bản pháp quy thúc đẩy hợp tác ba bên. Chẳng hạn, với sự phát triển của nội dung số, doanh nghiệp đặt hàng nhà trường đào tạo nhân lực chuyên sâu phát triển nội dung số thì doanh nghiệp sẽ chi trả thế nào cho nhà trường và sinh viên được hưởng những quyền lợi gì? Doanh nghiệp được tham gia đến mức độ nào trong quá trình thiết kế chương trình đào tạo? Doanh nghiệp đầu tư vốn, thiết bị, phòng thực hành hoặc tài trợ đào tạo cho nhà trường được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đến mức nào trong tương lai?
 |
| Sinh viên Khoa Văn hóa học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội thực hành sáng tạo sản phẩm công nghiệp văn hóa. Ảnh: PHƯƠNG THẢO |
TS Lã Trường Anh, Học viện Khoa học xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng: Các quy định về giáo dục đại học, việc làm, văn hóa, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tài chính công và sở hữu trí tuệ cần được kết nối theo toàn bộ quá trình phát triển nhân lực: Dự báo nhu cầu, đặt hàng, đào tạo, thực hành nghề nghiệp, sử dụng lao động và đánh giá kết quả. Trong điều kiện hiện nay, không nhất thiết phải xây dựng ngay một đạo luật riêng về hợp tác ba bên; cần ưu tiên cụ thể hóa trách nhiệm phối hợp và tháo gỡ những vướng mắc trong các văn bản điều chỉnh từng hoạt động.
Từ kinh nghiệm của nhiều quốc gia, nhà trường vẫn được xem là chủ thể để kết nối hữu hiệu, tiên phong tạo ra các dự án hợp tác khả thi. PGS, TS Xu Hao, Viện Nghiên cứu Nghề thủ công truyền thống Quảng Tây, Đại học Sư phạm Nam Ninh (Trung Quốc) lấy ví dụ về dự án bảo tồn và phát triển sáng tạo nghề thủ công truyền thống, đó là: Viện tập trung nghiên cứu khoa học làm nền tảng, triển khai ghi chép kỹ thuật, nghiên cứu đề tài và phát triển bằng sáng chế, tạo cơ sở lý luận cho việc kế thừa nghề thủ công. Mặt khác, Viện dựa vào các cơ sở thực hành để mời nghệ nhân đến giảng dạy trực tiếp, tổ chức triển lãm và tổ chức cuộc thi thiết kế nhằm khơi dậy sức sáng tạo cho sinh viên. Đồng thời, Viện xây dựng các đơn vị hỗ trợ ươm tạo sản phẩm sáng tạo văn hóa, liên kết với doanh nghiệp để mở rộng kênh thị trường, thúc đẩy các kết quả sáng tạo từ tri thức nghề thủ công đưa ra thị trường. PGS, TS Xu Hao nhấn mạnh: Yếu tố then chốt để cơ chế này vận hành là phải cân bằng nhu cầu của các bên tham gia dự án. Chẳng hạn nghệ nhân vô danh ở những làng bản xa xôi rất hào hứng tham gia dự án khi được công nhận bằng danh hiệu, có thù lao giảng dạy.
Tại Việt Nam, công nghiệp văn hóa đã được một số tập đoàn hàng đầu xác định là trụ cột phát triển, mở ra cơ hội to lớn để thúc đẩy đào tạo nhân lực. Mô hình hợp tác ba bên khả thi được các chuyên gia đúc kết đó là: Tập đoàn lớn tài trợ hạ tầng kỹ thuật, dữ liệu lớn và năng lực số hóa; đại học và tổ chức văn hóa cung cấp tri thức chuyên môn; còn Nhà nước tạo hành lang chính sách (quy hoạch đất đai, công nhận danh hiệu, hỗ trợ tài chính, cho phép liên doanh có kiểm soát với khu vực tư nhân và nước ngoài) để duy trì tính bền vững của quan hệ hợp tác.
Mô hình hợp tác ba bên nếu được vận hành hiệu quả chính là bảo đảm hình thành hệ sinh thái sáng tạo, khi đó yếu tố sáng tạo nuôi dưỡng và là động lực để nền văn hóa phát triển. Từ đó, văn hóa không chỉ là lĩnh vực tinh thần hay kết quả của kinh tế, mà là một nguồn lực nội sinh trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.