Những năm qua, việc chú trọng đầu tư cho giáo dục và đào tạo (GD-ĐT) không chỉ cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội mà còn góp phần ổn định chính trị, quốc phòng - an ninh của vùng Tây Nguyên. Để giúp bạn đọc có được góc nhìn toàn diện, đa chiều về công tác GD-ĐT ở Tây Nguyên trong giai đoạn 2011-2015, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có trao đổi với ông Trần Việt Hùng, Phó trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên về vấn đề này.

Phóng viên (PV): Ông có thể cho biết những thành tựu nổi bật của Tây Nguyên trong công tác GD-ĐT thời gian qua?

Ông Trần Việt Hùng: Thực hiện Quyết định số 1951/QĐ-TTg ngày 2-11-2011 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển GD-ĐT và dạy nghề các tỉnh vùng Tây Nguyên giai đoạn 2011-2015, chúng tôi cùng với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương các tỉnh vùng Tây Nguyên đã quan tâm sâu sát, đầu tư toàn diện cho GD-ĐT trong vùng. Có thể khẳng định rằng, muốn phát triển kinh tế-xã hội thì yếu tố con người là then chốt nhất và để đầu tư cho con người có hiệu quả nhất thì không gì khác ngoài GD-ĐT. Những năm qua, ngành GD-ĐT các tỉnh vùng Tây Nguyên đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, từng bước tiến kịp các địa phương trong cả nước. Cụ thể, mạng lưới trường, lớp ở các cấp học tiếp tục phát triển rộng khắp các địa bàn dân cư. So với năm 2011, năm 2015 các tỉnh Tây Nguyên có 984 trường mầm non (tăng 185 trường); 1.274 trường tiểu học, (tăng 64 trường); 786 trường THCS (tăng 21 trường); 215 trường THPT (tăng 12 trường). Phần lớn trường, lớp học được đầu tư kiên cố và chuẩn hóa, cơ bản đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

 Ông Trần Việt Hùng. Ảnh: TUẤN ANH.

Trên địa bàn Tây Nguyên có 4 trường đại học, 5 phân hiệu đại học và phân viện, 14 trường cao đẳng, 21 trường trung cấp từng bước tăng quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực cho vùng. Đến năm 2015, các tỉnh Tây Nguyên cũng đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường ở cấp tiểu học đạt 99,50% (chỉ tiêu là 98-99%), cấp THCS đạt 91,96%; hoàn thành công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ dưới 5 tuổi; 100% số xã, phường đã hoàn thành phổ cập THCS...

PV: Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác GD-ĐT trong vùng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, cụ thể là gì thưa ông?

Ông Trần Việt Hùng: Đặc thù của Tây Nguyên là địa bàn rộng, dân cư phân bố không đều nên công tác xây dựng, phát triển mạng lưới trường, lớp học mầm non còn gặp nhiều khó khăn, vẫn còn có xã chưa có trường mầm non độc lập; một số lớp học mầm non phải ghép chung với trường tiểu học và còn nhiều lớp phải học nhờ, học tạm. Việc thực hiện kiên cố hóa trường học và nhà ở giáo viên cũng có nhiều khó khăn do thiếu vốn đầu tư. Hệ thống các trường trung cấp, cao đẳng, đại học còn thiếu nhiều về điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy và học; yêu cầu về số lượng và chất lượng giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng đang là một khó khăn, thách thức đối với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực của vùng. Bên cạnh đó, việc triển khai xây dựng trường dân tộc bán trú chưa đều khắp; tỷ lệ học sinh vào các trường dân tộc nội trú và bán trú còn thấp...

PV: Các địa phương trong vùng Tây Nguyên đã có những giải pháp gì để đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao?

Ông Trần Việt Hùng: Xác định vai trò, ý nghĩa và sự đóng góp to lớn của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng-an ninh của cả nước nói chung, khu vực Tây Nguyên nói riêng, các địa phương trong vùng đã có nhiều giải pháp đồng bộ cả trước mắt cũng như lâu dài. Trong đó tập trung vào việc tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể để các trường đại học, cao đẳng, trung cấp nghề từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị dạy và học để tăng quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực cho vùng. Bên cạnh đó, ngành GD-ĐT các địa phương đã chủ động phối hợp với các cơ sở giáo dục đại học trong vùng, tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục có uy tín trong và ngoài nước liên kết với các trường đại học trong vùng đào tạo trình độ đại học, sau đại học, các chuyên ngành mà các trường trong vùng chưa đáp ứng, kịp thời bổ sung cho đội ngũ cán bộ quản lý, nghiên cứu khoa học… cho các tỉnh trong vùng.

Trong 5 năm qua, các trường đại học trong vùng đã đào tạo tại trường và đề nghị Ban Chỉ đạo Tây Nguyên và Bộ GD-ĐT chấp thuận cho phép liên kết với 20 trường đại học lớn của cả nước, đào tạo trình độ sau đại học với 40 chuyên ngành khác nhau. Tổng số học viên đã liên kết đào tạo khoảng 4.200 và đều đã tốt nghiệp ra trường. Kế hoạch liên kết trên đã kịp thời bổ sung và phát triển nhanh đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng nhu cầu về chất lượng nguồn nhân lực của Tây Nguyên, nhằm góp phần vào sự phát triển Tây Nguyên nhanh và bền vững.

PV: Để thu hút được các đối tượng học sinh, sinh viên về Tây Nguyên theo học cũng như ở lại để phục vụ lâu dài, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cũng như các địa phương đã có cơ chế đãi ngộ như thế nào để thu hút?

Ông Trần Việt Hùng: Với mục tiêu đào tạo và sử dụng được nguồn nhân lực chất lượng cao cũng như lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật, các tỉnh vùng Tây Nguyên đã thực hiện nhiều chế độ đãi ngộ đối với cả người học và người dạy; đồng thời đẩy mạnh huy động các nguồn lực ngoài ngân sách Nhà nước để phát triển dạy nghề, nhất là đào tạo nguồn nhân lực.

Đối với đối tượng học sinh, sinh viên, ngành GD-ĐT đã thực hiện đầy đủ chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; chính sách vay vốn tín dụng học sinh, sinh viên và các chính sách khác theo quy định hiện hành của Nhà nước. Bên cạnh đó, học sinh ở những vùng có điều kiện khó khăn, thuộc hộ nghèo, gia đình chính sách được hỗ trợ (bằng tiền hoặc hiện vật) phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương; ưu tiên cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng, dự bị đại học, các trường chuyên nghiệp đối với học sinh sau khi tốt nghiệp THPT ở các trường phổ thông dân tộc nội trú...

Đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, các tỉnh vùng Tây Nguyên đã triển khai thực hiện chính sách khuyến khích nhà giáo dạy học ở những vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và giáo dục hòa nhập; bổ sung đối tượng giáo viên dạy nghề thường xuyên xuống thôn, buôn dạy nghề được hưởng phụ cấp lưu động như giáo viên thực hiện xóa mù chữ, phổ cập giáo dục. Đối tượng giáo viên dạy nghề cho học sinh, sinh viên học nghề nội trú được hưởng chính sách như nhà giáo dạy ở trường chuyên biệt; đối tượng giáo viên ở các cơ sở dạy nghề vừa dạy lý thuyết, vừa dạy thực hành được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

TRẦN MINH MẠNH (thực hiện)