Với đồng chí Nguyễn Thế Kỷ, trọn đời đi theo Đảng, vì Đảng vì Dân là lẽ tất yếu khi sinh trưởng trong một gia đình cách mạng trên quê hương xứ Nghệ giàu truyền thống văn hóa, yêu nước, cách mạng.

1. Chúng tôi có nhiều dịp gặp gỡ đồng chí Nguyễn Thế Kỷ giai đoạn công tác ở Hà Nội, đảm nhận các chức vụ: Vụ trưởng Vụ Báo chí-Xuất bản, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Lý luận phê bình Văn học nghệ thuật Trung ương, Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương kiêm Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết và hợp tác Á-Phi-Mỹ Latinh. Những lần gặp gỡ, lần nào cũng vội vì ông rất bận rộn. Các cuộc trò chuyện chỉ xoay quanh công việc; không đủ thời gian trò chuyện riêng tư.

 Đồng chí Nguyễn Thế Kỷ (thứ 5 từ phải sang) tại Lễ ra mắt tiểu thuyết "Hừng Đông", năm 2020. Ảnh: HẠNH LÊ

Mấy năm trước, khi ông xuất bản hàng loạt tiểu thuyết, viết kịch bản hàng loạt vở diễn trong sự ngỡ ngàng, thán phục của nhiều người, chúng tôi mới nảy ra ý định muốn trò chuyện về chuyện đời, chuyện nghề, chuyện quê hương của ông. Điều để lại ấn tượng mạnh mẽ là nhà văn Nguyễn Thế Kỷ bằng tài năng và tâm huyết đã khắc họa hình tượng các anh hùng dân tộc, danh nhân xứ Nghệ. Chúng tôi nghĩ đến quan hệ nhân quả mà tâm lý học đúc kết: Trong tiềm thức sâu kín nhất, sẽ có những động lực sáng tạo hình thành từ thời thơ ấu, từ những chắt chiu, trải nghiệm, mong ước, đến khi đủ tháng đủ ngày thì nhà văn cho đứa con tinh thần của mình cất tiếng chào đời. Lý giải này có vẻ hợp lý và thấu đáo với trường hợp Nguyễn Thế Kỷ - một chính khách mà công việc luôn ngập đầu ngập cổ, nhưng không thể khác, vẫn dành cho sáng tác văn chương những khoảng không gian, thời gian thỏa đáng.

Khi chúng tôi nói về giả định của mình, ông nở một nụ cười thân thiện thường thấy. Và thời thơ ấu của ông, được hồi tưởng trong sự xúc động lớn lao…

Khác với nhiều gia đình thời xưa, thường đông con cái. Ông là người con duy nhất trong gia đình mà người cha - ông Nguyễn Bá Tờn, là thương binh nặng trong kháng chiến chống Pháp. Đạn giặc găm vào đầu gối và chân trái, khiến ông Tờn không thể đi lại bình thường. Ấy vậy mà chỉ với đôi nạng gỗ, ông tập tễnh lần hồi về quê với quãng đường xấp xỉ 500km. Lập gia đình rồi nhưng mãi đến ngoài 30 tuổi, vợ chồng ông mới có con.

 Đồng chí Nguyễn Thế Kỷ (bên phải) và thân phụ - ông Nguyễn Bá Tờn. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Ông Nguyễn Bá Tờn lăn lộn trong nhiều vị trí công tác, rồi được bầu làm Chủ tịch Ủy ban hành chính (sau này là UBND) huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An suốt những năm chống Mỹ cứu nước. Nhiều giai thoại về ông cụ đến bây giờ vẫn được lưu truyền: Một thương binh nặng dũng cảm bắt giữ một tên trộm là tù vượt ngục giữa đêm mưa gió; đạp xe đạp bằng “một chân rưỡi” đến nơi mưa bão, nơi vừa bị dội bom để chỉ đạo cứu dân, khắc phục hậu quả. Ông cụ từng đạp xe dẫn đoàn cán bộ huyện ra tận tỉnh Thái Bình để học tập làm nông nghiệp. Chiếc xe đạp nay được người con trai Nguyễn Thế Kỷ xem như gia bảo, để nhớ về người cha đáng kính; một tấm gương người đảng viên - thương binh liêm khiết, suốt đời tận tụy cống hiến.

Gia cảnh “nhà quan” thời chiến tranh không khá giả hơn với những gia đình thường dân khác, đã được đồng chí Nguyễn Thế Kỷ họa bằng mấy câu thơ mộc mạc: “…Buổi sáng mẹ thợ cấy/ Buổi chiều mẹ thợ cày/ Cha tiếng là “Quan huyện”/ Nhà hết gạo chạy quanh/ Nhớ mấy lần say sắn/ Ói mật vàng mật xanh/ Mẹ ôm con ve vuốt/ Tí nữa thành cỏ xanh…”. Cũng vì gia cảnh ấy, sau khi tốt nghiệp vào loại xuất sắc Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông quyết định về quê làm việc, dù cơ hội ở lại Hà Nội lúc đó là rất lớn và “đường đi” có vẻ thênh thang hơn.

Quê hương trong tâm khảm đồng chí Nguyễn Thế Kỷ, không chỉ có gia đình thân thương, mà sâu sắc, xúc động hơn là truyền thống văn hóa, cách mạng. Ông thổ lộ điều này trong Lời nói đầu tiểu thuyết “Hừng Đông” viết về nhà cách mạng Phan Đăng Lưu: “Tác giả có may mắn và vinh dự sinh ra và lớn lên trên quê hương Yên Thành, Nghệ An của Phan Đăng Lưu. Ông nội tác giả cùng tuổi với Phan Đăng Lưu, cha tác giả - một lão thành cách mạng - kém Phan Đăng Lưu hai giáp. Từ nhỏ, tác giả được ông bà, cha mẹ kể nhiều chuyện về Phan Đăng Lưu, chuyện về các bậc sĩ phu, văn thân trước đó ở quê mình từng tham gia Phong trào Cần Vương”.

Nhà văn Nguyễn Thế Kỷ khắc ghi ơn nghĩa với quê hương và có cảm hứng lớn về lịch sử, nhất là lịch sử Đảng ta. Ông viết như là sự câu thúc, niềm tự hào, mong muốn truyền lửa, truyền cảm hứng cho công chúng, nhất là lớp trẻ về lịch sử vẻ vang của cha ông.

2. Giới văn chương, báo chí hay nói đùa: Câu nói “Nhìn mặt để bắt hình dong” không thật đúng với trường hợp Nguyễn Thế Kỷ. Vẻ ngoài phúc hậu, dễ mến, dễ gần, thoạt chừng là người xuề xòa, cởi mở. Ấy vậy khi bước vào công việc, sự nghiêm túc, quyết liệt như có lửa trong tim của ông khiến bạn bè, đồng nghiệp bất ngờ.

 Đồng chí Nguyễn Thế Kỷ phát biểu tại Vòng chấm chung khảo Giải Báo chí quốc gia lần thứ XIX. Ảnh: SƠN HẢI

Chúng tôi chứng kiến trong một lần giao ban ngành xuất bản, ông khi đó là Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đã phê bình gay gắt Giám đốc - Tổng Biên tập một nhà xuất bản ủng hộ nhóm thơ Mở miệng chủ trương “thơ rác”, “thơ nghĩa địa”, làm vấy bẩn thơ ca. Ông còn kể cho chúng tôi nghe: Khi ở cương vị Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, ông đã kiên quyết “xử lý” một trường hợp lãnh đạo cấp ban đưa nhiều người là họ hàng, đồng hương vào đơn vị; kỷ luật và buộc thôi việc một số ít phóng viên “làm tiền” khi tác nghiệp.

Tâm niệm của đồng chí là dù ở vị trí nào cũng phải tâm huyết, đóng góp vì sự nghiệp chung. Hai năm (2003-2025) được điều động giữ chức vụ Bí thư Huyện ủy Nam Đàn, tỉnh Nghệ An để lại trong đồng chí nhiều ấn tượng sâu đậm.

Từ người đứng đầu tờ báo Đảng bộ địa phương trở thành người đứng đầu Đảng bộ huyện, đòi hỏi phải vừa có tầm nhìn bao quát, sâu sát ở nhiều vấn đề, lĩnh vực. Đúng như nhà thơ Tố Hữu hóm hỉnh đúc kết: “Nghề” bí thư, đâu chuyện giấy tờ!/ Lắng nghe cuộc sống gọi từng giờ”. Ông tranh thủ đi cơ sở, nắm bắt tình hình, tìm cách nhân rộng mô hình tốt, tháo gỡ các vướng mắc, bất cập. Ông đã chỉ đạo mở rộng và thâm canh vụ Đông; coi trọng trồng rau màu hàng hóa. Nhờ đó, người nông dân nâng cao thu nhập, sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững. Hay như câu chuyện góp công, góp của xóa nhà tranh, nhà dột nát; đưa xã Nam Thượng thoát khỏi “ba không”: Không đường ô tô, không điện thoại hữu tuyến và sóng viễn thông.

Với tầm nhìn xa, đồng chí đã đề xuất chủ trương, được Đảng bộ ban hành nghị quyết về quy hoạch huyện Nam Đàn, trong đó chú ý bảo tồn không gian văn hóa Khu di tích Kim Liên - quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo đó, ven Quốc lộ 46 đoạn đi qua Nam Đàn không cấp đất xây dựng nhà ở để giữ gìn cảnh quan văn hóa, lịch sử. Ông đã tham mưu cho lãnh đạo tỉnh, cùng lãnh đạo huyện và các xã trong huyện huy động, tranh thủ mọi nguồn lực để bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa; xây dựng hạ tầng giao thông. Nhờ đó, Nam Đàn có bước phát triển kinh tế-xã hội, nổi bật là lĩnh vực du lịch.

Đắm mình vào thực tiễn giúp ông nhận ra chân lý: Việc dù khó nhưng có lợi cho người dân, cho số đông, quyết làm thì ắt thành công. Thế nên sau này khi đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng ở Trung ương, ông luôn chịu khó tìm hiểu căn nguyên của vấn đề, sự việc, chí công vô tư, thẳng thắn, khách quan, có lý có tình.

 Đồng chí Nguyễn Thế Kỷ bên các cháu nội, cháu ngoại. Ảnh do nhân vật cung cấp

Trong công việc nghiêm túc bao nhiêu, trở về với gia đình riêng, đồng chí là người ông, người cha yêu thương con cháu hết mực. Ông giáo dục con cái phải trở thành người tử tế, trước khi nghĩ đến kiến công lập nghiệp. Một câu chuyện nhiều quen với ông vẫn kể đó là con trai đồng chí Nguyễn Thế Kỷ sau khi du học thạc sĩ ở Anh về, tự xin việc ở một cơ quan nhà nước. Thật oái ăm là định mức biên chế ở đó đã đủ. Khi đó ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII (2016-2021) nhưng không hề can thiệp. Đến cơ quan thứ hai, khi tiếp tục khó khăn về biên chế, cậu con trai xin ra làm bên ngoài khu vực nhà nước, ông động viên: “Con cứ tự bơi thì tự cứng cáp. Con đường đi của ba cũng vậy, “bươi (bới) đất, lật cỏ” mà sống, mà trưởng thành”.

 Đồng chí Nguyễn Thế Kỷ (thứ hai từ phải sang) cùng bạn bè, đồng nghiệp. Ảnh do nhân vật cung cấp

Trong đối nhân xử thế, đồng chí được mọi người quý mến bằng sự chân thành, cởi mở, nhân hậu; không có sự quan cách bề trên. Ở các cơ quan mà đồng chí làm lãnh đạo, không hề có chuyện thư ký phải xách cặp; đồng chí nhẹ nhàng và hài hước: “Anh còn sức khỏe, chưa phải nhờ em!”. Mỗi lần sinh nhật, ông chỉ tổ chức trong gia đình, tuyệt đối không… “xã hội hóa”. Bất kể là ai, với ông, đến với nhau bằng tình nghĩa, khoảng cách chức vụ, địa vị được nhẹ nhàng để lại một bên, cùng ăn một bữa cơm không hề tốn kém, kể chuyện vui, đọc thơ, đàn hát chan hòa. Chúng tôi biết nhiều người trong giới văn hóa, văn nghệ tìm đến ông để giãi bày tâm sự, kể cả những vướng mắc, băn khoăn. Không chỉ vì có một cán bộ cấp cao của Đảng luôn sẵn sàng lắng nghe mà còn là một người đồng nghiệp, một người bạn có thể tin tưởng, chia sẻ với họ trên con đường sáng tạo, cống hiến, thăm thẳm thú vị và muôn nỗi truân chuyên. 

(Còn nữa)