Thứ nhất, đổi mới thể chế là sự kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn xây dựng Nhà nước Xô viết, V.I. Lênin đã chỉ ra hai vấn đề cốt lõi, có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc đối với đổi mới thể chế, đó là “cải tổ bộ máy nhà nước” và “nâng cao hiệu quả vận hành của bộ máy nhà nước”. Theo V.I. Lênin, cải tổ bộ máy nhà nước thực chất là quá trình “thanh lọc” toàn diện nhằm loại bỏ những yếu tố trì trệ, quan liêu, bảo thủ cản trở sự phát triển. Lênin đặc biệt phê phán những cải cách hình thức, thiếu thực chất, ví như lớp “cáu bẩn” làm tê liệt bộ máy.
Lênin chỉ rõ: “Đã qua 5 năm ra sức cải tiến bộ máy nhà nước, nhưng đó chỉ là một hoạt động phí công... vô hiệu, thậm chí còn vô ích, còn có hại là khác. Nhìn những hoạt động phí công ấy thì tưởng là chúng ta công tác, nhưng thực tế, hoạt động đó đã làm cho những cơ quan và đầu óc của chúng ta đóng cáu lại”[1].
Từ đó, Lênin yêu cầu cải cách phải được tiến hành một cách toàn diện, khoa học, thận trọng và kiên quyết khắc phục triệt để khuynh hướng cải cách hình thức, nóng vội, chủ quan. Đồng thời, quá trình cải cách cần bảo đảm tính linh hoạt trong tổ chức bộ máy, kể cả việc kết hợp giữa cơ quan Đảng và Nhà nước trong những điều kiện cần thiết nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động.
Đặc biệt, V.I. Lênin nhấn mạnh yếu tố con người là khâu quyết định của mọi cải cách: Bộ máy dù hợp lý đến đâu cũng không thể vận hành hiệu quả nếu thiếu đội ngũ cán bộ có năng lực và phẩm chất. Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ trên nền tảng học tập suốt đời được xác định là điều kiện tất yếu để chuyển hóa tri thức thành năng lực thực tiễn, đáp ứng yêu cầu quản trị trong bối cảnh mới.
Gắn liền với cải tổ bộ máy nhà nước là yêu cầu nâng cao hiệu quả vận hành. Theo Lênin, một nhà nước không thể vận hành bằng nhiệt tình cách mạng thuần túy mà phải dựa trên năng lực quản lý thực chất của đội ngũ cán bộ. Lênin nhấn mạnh: “Muốn quản lý được, thì cần am hiểu công việc và phải là một cán bộ quản lý giỏi”[2].
Từ đó, cải cách bộ máy đòi hỏi phải thực hiện nghiêm túc việc sàng lọc đội ngũ cán bộ, kiên quyết thay thế những người yếu kém, trì trệ; đồng thời, lựa chọn, bồi dưỡng và trọng dụng những người có năng lực, phẩm chất và tinh thần trách nhiệm cao. Cùng với đó, xây dựng bộ máy trong sạch, tiết kiệm, hoạt động vì lợi ích của nhân dân là yêu cầu mang tính nguyên tắc. Đặc biệt, cần củng cố mối liên hệ mật thiết giữa bộ máy nhà nước với nhân dân, coi đây là “mạch sống” của nhà nước kiểu mới, qua đó hạn chế và từng bước đẩy lùi chủ nghĩa quan liêu.
 |
| Quang cảnh phiên khai mạc Đại hội VI của Đảng (12-1986). Ảnh: TTXVN |
Những quan điểm cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển sáng tạo trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Mặc dù không trực tiếp đề cập đến khái niệm “đổi mới thể chế”, nhưng nội hàm của vấn đề này được thể hiện sâu sắc trong tư tưởng của Người về xây dựng và vận hành Hiến pháp, pháp luật.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một thể chế đúng đắn không chỉ ở sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật mà còn ở phương thức xây dựng và thực thi pháp luật. Người nhấn mạnh việc xây dựng pháp luật phải bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, phải thực sự dân chủ, thực sự phản ánh ý chí, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của Nhân dân. Người chỉ rõ: “Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”[3]. Chỉ khi nào Nhân dân thực sự là chủ và làm chủ trong xây dựng pháp luật thì khi đó mới có được một hệ thống pháp luật dân chủ, nhân văn, tiến bộ.
Trên nền tảng hệ thống pháp luật dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu thực thi pháp luật như thước đo quyết định giá trị của thể chế. Theo Người, pháp luật dù hoàn thiện đến đâu cũng sẽ trở nên hình thức nếu không được tổ chức thực hiện nghiêm túc, triệt để trong thực tiễn. Nếu pháp luật là sự thể chế hóa ý chí, lợi ích của Nhân dân thì hiệu quả thực thi chính là tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng của hệ thống pháp luật. Người yêu cầu mọi tổ chức, cá nhân phải chấp hành nghiêm pháp luật, không ai được đứng trên hay đứng ngoài pháp luật. Tính nghiêm minh của pháp luật phải được bảo đảm, xử lý công bằng, không phân biệt địa vị, giai tầng.
Người khẳng định: “Pháp luật Việt Nam tuy khoan hồng với những người biết cải tà quy chính nhưng sẽ thẳng tay trừng trị những tên Việt gian đầu sỏ đã bán nước buôn dân”[4]. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu cao đối với đội ngũ thực thi pháp luật với chuẩn mực: “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư”, coi đây không chỉ là phẩm chất cá nhân mà còn là nguyên tắc nền tảng trong tổ chức và vận hành hệ thống tư pháp. Việc thực thi pháp luật phải bảo đảm phân định rõ ràng giữa công và tội, giữ vững tính công bằng, khách quan, qua đó củng cố niềm tin của Nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, đổi mới thể chế phản ánh sâu sắc bản chất “tự đổi mới, tự chỉnh đốn” của Đảng Cộng sản Việt Nam.
“Tự đổi mới, tự chỉnh đốn” có thể được hiểu là quá trình Đảng chủ động tự soi rọi, tự điều chỉnh, sửa đổi và tự hoàn thiện mình nhằm khắc phục những hạn chế, sai lầm, đưa hoạt động của Đảng trở về đúng với các nguyên tắc xây dựng Đảng trên cả phương diện chính trị, tư tưởng và tổ chức. Theo đó, “tự đổi mới, tự chỉnh đốn” không chỉ là khắc phục cái sai, cái yếu mà còn là quá trình “thanh lọc”, bồi đắp để làm cho cái đúng, cái tốt ngày càng được củng cố và phát triển. Chính ở đó, “tự chỉnh đốn” không chỉ mang ý nghĩa tự làm trong sạch mà còn là điều kiện để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.
“Tự đổi mới, tự chỉnh đốn” là quá trình thường xuyên, liên tục, bền bỉ, phản ánh bản chất cách mạng, năng lực nội sinh của Đảng trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng, nhất là những thời điểm có tính bước ngoặt như: khi cách mạng gặp khó khăn, khi chuyển giai đoạn hay thậm chí khi đã giành được thắng lợi.
Bài học “sửa sai” trong Cải cách ruộng đất của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành tấm gương mẫu mực về thái độ và trách nhiệm của đảng cầm quyền trước khuyết điểm và sai lầm. Người khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”[5].
Trong 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quá trình đổi mới thể chế đã diễn ra như một cuộc tái cấu trúc toàn diện cách thức tổ chức và vận hành quyền lực trên mọi lĩnh vực, trong đó tiên phong là đổi mới thể chế kinh tế. Từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, Đảng đã chủ động tháo gỡ những ràng buộc lỗi thời, từng bước xác lập và hoàn thiện thể chế kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đến kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó, các nguồn lực được phân bổ theo quy luật thị trường nhưng vẫn đặt dưới sự định hướng của Nhà nước, vì mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội.
Song song với đó là quá trình đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị, trọng tâm là xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc ban hành Hiến pháp năm 2013 đã đánh dấu bước tiến lớn trong công tác lập pháp, qua đó làm rõ hơn cơ chế kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Nếu trước đổi mới, thể chế là “điểm nghẽn” kìm hãm phát triển thì sau đổi mới, chính thể chế từng bước trở thành “đòn bẩy” giải phóng sức sản xuất, mở rộng không gian phát triển và nâng cao năng lực quản trị quốc gia.
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Đảng ta đã khởi xướng cuộc cách mạng tinh gọn về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Đây là yêu cầu cấp bách xuất phát từ thực tiễn nhằm nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Với nhận thức rằng: một hệ thống chính trị cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, nhiều “điểm nghẽn, nút thắt” về thể chế sẽ gây cản trở, thậm chí lãng phí, thất thoát nguồn lực phát triển, Đảng và Nhà nước đã có nhiều giải pháp căn cơ, đồng bộ, khả thi, từ đó từng bước giúp đất nước tận dụng tối đa thời cơ, vượt qua thách thức, đưa cỗ xe phát triển tiến nhanh về đích thắng lợi.
Quá trình đổi mới thể chế không chỉ khẳng định năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng từng bước được bổ sung, phát triển và hoàn thiện ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ mà còn là minh chứng sống động cho bản chất cách mạng “tự đổi mới, tự chỉnh đốn” của Đảng. Do đó, mọi luận điệu xuyên tạc về đổi mới thể chế của Đảng và mọi luận điệu suy diễn ác ý rằng, “đổi mới thể chế nhằm sửa chữa những lỗi của chế độ”(!?) hay “đổi mới thể chế là do năng lực yếu kém của Đảng”(!?) đều là những luận điệu quy chụp vô căn cứ.
Thứ ba, đổi mới thể chế là xu thế chung trong quản trị quốc gia hiện đại.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng, cải cách thể chế đã trở thành xu thế chung của quản trị quốc gia hiện đại.
Thực tiễn đổi mới thể chế của Trung Quốc cho thấy, mỗi bước tiến của cải cách kinh tế đều đặt ra yêu cầu tương ứng đối với đổi mới thể chế chính trị; nếu không, chính thể chế sẽ trở thành lực cản đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Vì vậy, quan điểm “ổn định là trên hết” không chỉ mang tính khẩu hiệu mà là sự đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn: Phát triển kinh tế phải đặt trên nền tảng ổn định chính trị, đồng thời thể chế chính trị phải được đổi mới kịp thời để tránh nguy cơ trì trệ từ bên trong.
Trong khi đó, kinh nghiệm của Nhật Bản lại cho thấy một hướng tiếp cận khác về đổi mới thể chế. Cải cách thể chế được tiến hành bằng tư duy pháp quyền chặt chẽ, có lộ trình và được luật hóa ở mức độ cao. Từ việc thành lập Hội đồng Cải cách hành chính (1996), đến việc ban hành đồng bộ một hệ thống luật và văn bản dưới luật, cuộc cải cách không diễn ra theo kiểu “đột phá tức thời” mà như một quá trình kiến tạo thể chế có tính toán, nơi từng bước đi đều được chuẩn hóa bằng pháp lý. Việc một hệ thống cải cách đồ sộ chính thức vận hành từ ngày 6-1-2001 không chỉ phản ánh năng lực tổ chức nhà nước mà còn cho thấy vai trò quyết định của pháp luật trong bảo đảm tính bền vững của cải cách.
Đối với Việt Nam, những kinh nghiệm đó có giá trị tham khảo quan trọng, nhưng không phải là “khuôn mẫu” để sao chép như các thế lực thù địch xuyên tạc. Sự tương đồng về thể chế chính trị với Trung Quốc hay những thành công về quản trị của Nhật Bản chỉ thực sự có ý nghĩa khi được soi chiếu qua điều kiện cụ thể của Việt Nam. Vì vậy, đổi mới thể chế phải là sự kết hợp giữa tiếp thu tinh hoa quản trị nhân loại với kiên định con đường xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Thứ tư, đổi mới thể chế là đột phá chiến lược mở đường cho hiện thực hóa “hai mục tiêu 100 năm” của dân tộc Việt Nam.
Hành trình từ một quốc gia đang phát triển vươn lên trở thành nước phát triển, thu nhập cao không đơn thuần là quá trình tích lũy về lượng mà là sự chuyển hóa mang tính bước ngoặt về chất của toàn bộ đời sống xã hội. Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, tăng trưởng nhanh trong một giai đoạn không đồng nghĩa với phát triển bền vững nếu thiếu một nền tảng thể chế đủ mạnh để nâng đỡ và dẫn dắt. Đại hội XIV chỉ rõ: “Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra từng bước được khắc phục, song vẫn còn diễn biến phức tạp. Nổi bật và bao trùm là nguy cơ tụt hậu, đặc biệt về khoa học và công nghệ, cùng với nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình”[6]. Đây là lần đầu tiên Đảng ta đánh giá trong bốn nguy cơ thì “nguy cơ tụt hậu”, đặc biệt là “tụt hậu về khoa học và công nghệ, cùng với nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình” là nguy cơ nổi bật và bao trùm.
Trong đó, “bẫy thu nhập trung bình”, xét đến cùng, không phải là “cái bẫy” của nguồn lực mà là “cái bẫy” của thể chế. Trong giai đoạn đầu phát triển, các động lực như lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên hay mở rộng đầu tư công có thể tạo ra những “cú hích” tăng trưởng đáng kể. Nhưng khi những dư địa này dần thu hẹp, nền kinh tế buộc phải chuyển sang dựa vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nhằm tăng năng suất lao động.
Chính tại bước chuyển này, thể chế có vai trò mang tính quyết định. Bởi lẽ, năng suất lao động không chỉ được tạo ra từ công nghệ mà trước hết được “nuôi dưỡng” trong một môi trường thể chế biết bảo vệ sáng kiến, giảm chi phí tuân thủ, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát đặc quyền. Nếu thể chế không theo kịp, mọi nỗ lực đổi mới đều có nguy cơ bị triệt tiêu hoặc méo mó.
Trong khi đó, bối cảnh kỷ nguyên số và toàn cầu hóa sâu rộng đòi hỏi thể chế không chỉ là yếu tố đồng hành cùng thực tiễn mà phải đóng vai trò vượt trước mở đường và dẫn dắt sự phát triển. Những mô hình phát triển mới, tăng trưởng mới như: Kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn... không thể vận hành hiệu quả trong một khuôn khổ pháp lý cứng nhắc, chậm thích ứng.
Ngược lại, chúng đòi hỏi một hệ thống thể chế linh hoạt, có khả năng thử nghiệm chính sách, chấp nhận những mô hình mới trong điều kiện kiểm soát rủi ro, đồng thời tạo ra “không gian an toàn” cho những chủ thể dám đổi mới vì lợi ích chung. Một thể chế trì trệ không chỉ làm mất cơ hội phát triển mà còn trở thành lực cản.
Bên cạnh đó, thể chế không chỉ là “khung khổ vận hành” của nền kinh tế mà còn là biểu hiện tập trung của năng lực quản trị quốc gia. Một thể chế hiệu quả phải đồng thời giải quyết được hai yêu cầu tưởng như mâu thuẫn: Vừa bảo đảm ổn định, kỷ cương, vừa tạo điều kiện cho đổi mới, sáng tạo. Nếu nghiêng về phía kiểm soát mà thiếu linh hoạt, thể chế sẽ kìm hãm động lực phát triển; ngược lại, nếu quá dễ dãi, buông lỏng, sẽ dẫn tới rủi ro mất kiểm soát, làm suy yếu niềm tin xã hội. Vì vậy, đổi mới thể chế thực chất là quá trình tái cấu trúc lại mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội theo hướng hiện đại, minh bạch và hiệu quả hơn.
Đối với Việt Nam, yêu cầu đổi mới thể chế càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng hiện thực hóa “hai mục tiêu 100 năm”. Những thành tựu đạt được trong 40 năm đổi mới là rất quan trọng nhưng cũng đang dần bộc lộ những giới hạn mang tính cấu trúc. Không ít rào cản về thủ tục hành chính, cơ chế phân bổ nguồn lực hay tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất trong hệ thống pháp luật vẫn đang làm gia tăng chi phí xã hội và làm suy giảm hiệu quả của các chính sách phát triển. Nếu không có những đột phá về thể chế, những “điểm nghẽn” này sẽ tiếp tục tích tụ, trở thành lực cản lớn đối với tiến trình phát triển nhanh và bền vững.
Đổi mới thể chế không thể dừng lại ở việc sửa đổi cục bộ một số quy định mà phải được nhìn nhận như một cuộc cải cách toàn diện, có tính hệ thống và đồng bộ. Trọng tâm của quá trình này là xây dựng một môi trường pháp lý ổn định nhưng không bảo thủ, minh bạch nhưng không cứng nhắc, đủ chặt chẽ để ngăn ngừa tiêu cực nhưng cũng đủ mở để khuyến khích sáng tạo. Bên cạnh đó, một khía cạnh quan trọng khác của đổi mới thể chế là nâng cao chất lượng thực thi pháp luật.
Thực tiễn cho thấy, giữa “chính sách, pháp luật trên giấy” và “chính sách, pháp luật trong đời sống” vẫn còn khoảng cách đáng kể. Vì vậy, cùng với hoàn thiện hệ thống pháp luật, cần chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, trách nhiệm và tư duy đổi mới; đồng thời, thiết lập các cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực hiệu quả nhằm bảo đảm mọi quy định được thực thi một cách công bằng, nhất quán và minh bạch. Chỉ khi thể chế được vận hành thông suốt trong thực tiễn, nó mới thực sự trở thành động lực phát triển.
Những kết quả bước đầu nhưng đặc biệt quan trọng về hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các “điểm nghẽn” về cơ chế, chính sách, tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng, thuận lợi đã trực tiếp góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trên cơ sở đó, “tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm đạt 8,18% - mức cao nhất trong 15 năm trở lại đây; thu ngân sách nhà nước đạt khoảng 62% dự toán, tăng 17,4%; niềm tin của doanh nghiệp, nhà đầu tư và nhân dân tiếp tục được củng cố”[7].
[1] V.I. Lênin (1978), Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, tập 45, tr.445.
[2] V.I. Lênin (1977), Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, tập 40, tr.257.
[3] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 5, tr.338.
[4] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 6, tr.49.
[5] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 5, tr.301.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.80.
[7] “Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Hoàn thiện thể chế phải gắn với nâng cao chất lượng thực thi”, Báo Quân đội nhân dân điện tử, ngày 6-7-2026.