Theo dự thảo báo cáo, Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 được Quốc hội thông qua chủ trương tại Nghị quyết số 25/2021/QH15 ngày 28-7-2021 và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tại Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 22-2-2022. Chương trình có tổng kinh phí tối thiểu (số làm tròn) là 196.332 tỷ đồng (vốn ngân sách Trung ương: 39.632 tỷ đồng, vốn ngân sách địa phương: 156.700 tỷ đồng). Chương trình thực hiện trên địa bàn 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

leftcenterrightdel

Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải điều hành nội dung thảo luận về các chương trình mục tiêu quốc gia tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội. 

Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025 được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 24/2021/QH15 và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tại Quyết định 90/QĐ-TTg ngày 18-1-2022. Chương trình có tổng nguồn vốn tối thiểu (số làm tròn) là 75.000 tỷ đồng (vốn ngân sách Trung ương 48.000 tỷ đồng; vốn ngân sách địa phương 12.690 tỷ đồng, vốn huy động hợp pháp khác là 14.310 tỷ đồng). Chương trình gồm 7 dự án, kết cấu thành 2 dự án độc lập và 5 dự án với 11 tiểu dự án, được thực hiện trên địa bàn 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (trong đó có 48 tỉnh sử dụng vốn ngân sách Nhà nước).

Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19-6-2020 và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tại Quyết định 1719/QĐ-TTg ngày 14-10-2021. Chương trình được có kinh phí tối thiểu (số làm tròn) là 137.664 tỷ đồng, (trong đó vốn đầu tư 50.000 tỷ đồng; vốn sự nghiệp 54.323 tỷ đồng; vốn ngân sách địa phương là 10.016 tỷ đồng; vốn vay tín dụng chính sách 19.727 tỷ đồng; vốn huy động hợp pháp khác 2.967 tỷ đồng). Chương trình gồm 10 dự án, 14 Tiểu dự án, thực hiện trên địa bàn 49 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Theo đánh giá của đoàn giám sát, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng hành của Quốc hội và sự quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tình hình triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia bước đầu đạt được một số kết quả tích cực, bám sát mục tiêu, yêu cầu, nội dung, phạm vi, nguyên tắc trong Nghị quyết của Quốc hội; cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội vùng nông thôn, miền núi được cải thiện nhiều; công tác kiểm tra, giám sát liên ngành và riêng từng chương trình được tăng cường.

leftcenterrightdel
 Quang cảnh phiên họp.

Ban Chỉ đạo chung các chương trình mục tiêu quốc gia đã kiện toàn theo Nghị quyết của Quốc hội thống nhất 1 Ban Chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương. Cơ quan giúp việc cho từng chương trình căn cứ vào tình hình thực tiễn và kế thừa từ các giai đoạn trước đã thành lập văn phòng điều phối, văn phòng giảm nghèo hoặc tổ công tác.

Công tác lập kế hoạch và phân bổ vốn thực hiện các chương trình đã được Chính phủ giao về các địa phương theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Đầu tư công; nội dung bám sát các nghị quyết của Quốc hội về phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia; kết quả giải ngân đã có tiến bộ trong năm 2023, nhất là nguồn vốn đầu tư. 

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, ước đến 31-8-2023, kết quả giải ngân vốn đầu tư phát triển kéo dài của 3 chương trình mục tiêu quốc gia đạt khoảng 58,47% kế hoạch vốn kéo dài (tính tổng vốn kế hoạch của năm 2022 đã giải ngân trong năm 2022 và trong 8 tháng năm 2023 đạt 79,82% kế hoạch năm 2022); kết quả giải ngân vốn đầu tư công năm 2023 ước đến 31-8-2023 đạt 41,9% kế hoạch. 

Bên cạnh đó, đoàn giám sát cũng chỉ rõ một số hạn chế, bất cập như các cơ quan bộ, ngành liên quan còn hạn chế trong quản lý và tổ chức thực hiện các chương trình, nhất là việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền quản lý. Cơ chế quản lý, chỉ đạo, lãnh đạo của Ban chỉ đạo vẫn theo tính chất ngành dọc của từng cơ quan; hiệu quả phối hợp liên ngành (theo chiều ngang) chưa thật sự chuyển biến rõ nét. Vai trò của cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và sự phối hợp giữa 3 Bộ chủ quản với các bộ ngành trong cơ chế 1 Ban Chỉ đạo chung còn có hạn chế.

Còn có sự trùng lặp về địa bàn thực hiện cả 3 chương trình mục tiêu quốc gia; việc lập kế hoạch xác định nhu cầu của các địa phương một số nơi chưa sát thực tế (sử dụng số liệu báo cáo cũ) làm cho công tác thực hiện phân bổ vốn không hợp lý, dẫn đến tình trạng vừa thừa, vừa thiếu trong khi mỗi chương trình lại có cơ chế quản lý khác nhau nên không thực hiện được lồng ghép.

Nguồn vốn bố trí chưa tương xứng so với mục tiêu, yêu cầu đặt ra. Phân bổ vốn đầu tư phát triển ngân sách Trung ương chậm. Tỷ lệ vốn đối ứng của địa phương chưa hợp lý. Có tình trạng phân bổ vốn dàn đều các nội dung thực hiện chương trình mà chưa sát với tình hình cụ thể, nhu cầu ở các địa phương.

Việc nắm bắt các vấn đề, hướng dẫn, hỗ trợ, tháo gỡ các vướng mắc trong triển khai thực hiện chương trình ở cơ sở (nhất là cấp xã, huyện nghèo) chưa kịp thời.

Những hạn chế, bất cập trên đã làm cho tiến độ giải ngân vốn ngân sách Trung ương năm 2022 đến 31-1-2023 chỉ đạt 42,49% kế hoạch (vốn đầu tư phát triển đạt 54% kế hoạch, vốn sự nghiệp đạt rất thấp, chỉ đạt 7,82% kế hoạch) và kết quả giải ngân kinh phí sự nghiệp nguồn ngân sách Trung ương năm 2023 đến tháng 6-2023 mới đạt 5,33% kế hoạch, kết quả giải ngân vốn đầu tư công ước đến 31-8-2023 mới đạt 41,9% kế hoạch. Nhiều dự án, tiểu dự án chưa thực hiện hoặc chưa phát huy được hiệu quả, khả năng hoàn thành mục tiêu giải ngân nguồn vốn ngân sách Trung ương của các chương trình mục tiêu quốc gia đến năm 2025 là rất khó khăn…

CHIẾN THẮNG

*Mời bạn đọc vào chuyên mục Chính trị xem các tin, bài liên quan.