Nhấn mạnh tình hình thế giới giai đoạn 2021-2025 có những thuận lợi, cơ hội và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức là chủ yếu, theo Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo sát sao của Đảng; sự giám sát, đồng hành, phối hợp của Quốc hội; sự chỉ đạo, điều hành quyết đoán, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, đất nước ta tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện; đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu giai đoạn 2021-2025, trong đó hoàn thành toàn bộ chỉ tiêu về xã hội.
Nổi bật là kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, tăng trưởng phục hồi mạnh mẽ và đạt kết quả tương đối cao, GDP năm 2025 tăng 8,02%; bình quân giai đoạn 2021-2025 tăng 6,2%; quy mô nền kinh tế tăng từ 346 tỷ USD năm 2020 lên 514 tỷ USD năm 2025, tăng 5 bậc, lên vị trí 32 thế giới; GDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, vào nhóm thu nhập trung bình cao. Lạm phát, bội chi ngân sách nhà nước và các chỉ tiêu về nợ công được kiểm soát. Thực hiện 3 đột phá chiến lược đạt nhiều kết quả nổi bật; nhiều dự án tồn đọng, doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, các tổ chức tín dụng yếu kém được xử lý có kết quả. Hệ thống hạ tầng được phát triển đồng bộ, hiện đại. Phát triển nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt kết quả tích cực. An sinh xã hội được bảo đảm, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên. Quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh.
 |
| Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị thông tin chuyên đề. |
Tuy nhiên, theo Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, nền tảng kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc; năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng góp chưa nhiều cho tăng trưởng. Chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài. Công tác chuẩn bị dự án đầu tư công chưa chú trọng đúng mức đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và hạch toán kinh tế tổng thể. Đời sống của một số bộ phận người dân còn khó khăn. Tình trạng ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát hiệu quả. Công tác tổ chức thực thi vẫn chưa bắt kịp yêu cầu phát triển. Hoạt động của một số cơ quan, đơn vị ở cấp xã sau sắp xếp còn gặp khó khăn, lúng túng.
Bước vào giai đoạn 2026-2030, tình hình thế giới có nhiều diễn biến mới hết sức phức tạp, khó lường; đặc biệt là xung đột ở Trung Đông gây gián đoạn nguồn cung, khiến giá dầu, khí và chi phí vận tải tăng cao, ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại, đầu tư quốc tế và tác động trực tiếp đến việc thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội nước ta. Trên cơ sở đánh giá toàn diện những thuận lợi, khó khăn, Ban Chấp hành Trung ương thống nhất các mục tiêu, chỉ tiêu để đạt tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số để hoàn thành 2 mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước.
Theo đó, mục tiêu của đất nước là phát triển nhanh, bền vững, đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô hàng đầu thế giới. Phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân. Mục tiêu cũng bao quát các nội dung khác về thể chế, nguồn nhân lực, văn hóa, xã hội, môi trường, hạ tầng, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho biết, kết luận bám sát các mục tiêu, chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV, chi tiết hóa thành 51 chỉ tiêu chủ yếu tại phụ lục 1 để bảo đảm thực hiện được mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước. Kết luận xác định 4 nhóm quan điểm chỉ đạo và đề ra 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu: Về kinh tế - xã hội; về tài chính quốc gia; về vay, trả nợ công; về đầu tư công trung hạn và 3 phụ lục.
Trong đó, nhóm nhiệm vụ, giải pháp về phát kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030 gồm 11 nhiệm vụ cụ thể và các giải pháp trọng tâm như: Thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị thực thi để phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con số”; tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, cạnh tranh để tạo đột phá tăng trưởng; chuyển đổi mô hình tăng trưởng, lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực; phát triển các khu vực doanh nghiệp và các mô hình kinh tế mới; thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; khơi thông và đa dạng hóa chuỗi cung ứng, kênh dẫn vốn; tập trung đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và chuẩn mực con người Việt Nam; hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân, nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài; phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thúc đẩy đô thị hóa, phát triển đô thị…
Theo Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, nhóm nhiệm vụ, giải pháp về tài chính quốc gia gồm 6 nhóm nhiệm vụ cụ thể, trong đó quản lý, điều hành ngân sách nhà nước hiệu lực, hiệu quả; xây dựng hệ thống thuế hiện đại, minh bạch; đối với chính sách đặc thù tài chính - ngân sách nhà nước địa phương, tập trung khai thác các nguồn thu mới; tận dụng tối đa công năng sử dụng trụ sở làm việc hiện có; hạn chế tối đa việc xây dựng trụ sở, trung tâm hành chính mới; huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển.
Với nhóm nhiệm vụ số 3 là nhiệm vụ, giải pháp vay, trả nợ công có 5 nhiệm vụ cụ thể, theo Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, đây là nhiệm vụ xuyên suốt và có tính dài hạn để bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia, giữ vững an toàn nợ công, trọng tâm là tăng cường quản trị rủi ro và nâng cao tính minh bạch trong huy động, sử dụng cũng như báo cáo thông tin nợ công. Chủ động linh hoạt trong việc lựa chọn công cụ, hình thức, khối lượng, kỳ hạn và thời điểm vay gắn chặt với công tác quản lý ngân quỹ. Tập trung giảm chi phí và áp lực huy động vốn cho ngân sách nhà nước, bảo đảm khả năng dự phòng trong các thời điểm thị trường biến động không thuận lợi.
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp đầu tư công trung hạn gồm 3 nhiệm vụ cụ thể. Đây là yêu cầu chiến lược, đặc biệt quan trọng và cấp thiết nhằm tạo động lực tăng trưởng kinh tế nhanh trong dài hạn: Quán triệt nguyên tắc bố trí vốn tập trung, trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, manh mún, tập trung cho các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, tạo lan tỏa lớn; giảm ít nhất 30% số lượng dự án so với giai đoạn 2021-2025 (cả Trung ương và địa phương). Lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư, tăng cường hợp tác công tư. Khẩn trương hướng dẫn hạch toán hiệu quả kinh tế, xã hội làm cơ sở phân bổ vốn đầu tư công, mục tiêu là phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, giảm hệ số ICOR đạt mục tiêu từ 4,5 - 4,8; chống thất thoát, lãng phí, tiêu cực.
Bên cạnh các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trên, Trung ương yêu cầu tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Theo Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, để Kết luận số 18 Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV sớm đi vào thực tiễn, phát huy hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, phấn đấu tăng trưởng “2 con số”, đòi hỏi các cơ quan trong hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các địa phương cần đặc biệt chú trọng tổ chức triển khai thực hiện, bảo đảm chủ động, khẩn trương, linh hoạt, hiệu quả. Theo đó, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội chỉ đạo báo cáo các kế hoạch để Quốc hội xem xét, quyết định; phối hợp chặt chẽ, kịp thời xem xét, điều chỉnh phù hợp khi có biến động, ảnh hưởng lớn tới các mục tiêu kinh tế vĩ mô và cân đối ngân sách nhà nước. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức quán triệt và thường xuyên tuyên truyền về việc triển khai, kết quả thực hiện Kết luận. Đảng ủy Chính phủ chủ trì, phối hợp với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện; định kỳ 6 tháng báo cáo kết quả với Bộ Chính trị, Ban Bí thư để chỉ đạo.
Bí thư tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy các bộ, ngành, cơ quan ở Trung ương phát huy vai trò gương mẫu của người đứng đầu, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng chương trình, kế hoạch, kịch bản cụ thể, sát thực tiễn và chủ động tổ chức triển khai quyết liệt, đồng bộ, kịp thời, hiệu quả. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, đôn đốc; xử lý dứt điểm các vấn đề thuộc thẩm quyền; chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả thực hiện; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng doanh nghiệp, mọi tầng lớp nhân dân được tham gia tích cực, đóng góp vào mục tiêu chung của đất nước - Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đề nghị.
TTXVN