Thỏa thuận ngừng bắn đã giúp cuộc xung đột tạm dừng sau chuỗi ngày tấn công và trả đũa dữ dội khiến tất cả các bên đều chịu tổn thất cả về người, trang bị, vũ khí, cơ sở vật chất... với tổng kinh phí khổng lồ. Tuy nhiên, những tổn hại về hình ảnh và uy tín trong một cuộc chiến có thể thấy trước kết cục sẽ không có bên nào chiến thắng là không thể cân, đong, đo, đếm.
Những tổn thất vô hình
Là siêu cường thế giới về công nghệ quân sự, không phủ nhận Mỹ vẫn là bên chiếm ưu thế tuyệt đối trên chiến trường và giữ được vai trò dẫn dắt “cuộc chơi”. Các đòn không kích đã làm suy giảm đáng kể năng lực quân sự của Iran, từ hải quân, không quân đến hệ thống tên lửa. Nhà phân tích chính trị người Mỹ kiêm Chủ tịch Eurasia Group Ian Bremmer đánh giá phần lớn năng lực quân sự truyền thống của Iran đã bị “bào mòn nghiêm trọng”.
Tuy nhiên, thực tế ở Iran cho thấy những mục tiêu lớn nhất mà Mỹ đặt ra khi tấn công Tehran vẫn còn dang dở. Bộ máy quyền lực của Nhà nước Hồi giáo không sụp đổ, xã hội không rơi vào hỗn loạn như một số dự báo ban đầu, các đòn đáp trả vẫn được Tehran duy trì với cường độ đáng kể. Những đòn đánh hiểm vào “đầu não” của Tehran gây tổn thất đáng kể, thậm chí tạo một “cú sốc chiến lược”, nhưng chưa đủ để làm tê liệt một hệ thống có độ thích ứng cao.
 |
| Người dân Mỹ biểu tình phản đối chiến tranh Iran và xung đột ở Lebanon ngày 8-4 tại New York. Ảnh: AP |
Trong khi đó, những tính toán sai lầm về tiềm lực quân sự của đối phương khiến Washington đang phải trả giá. Theo số liệu mới nhất, Mỹ ghi nhận 13 binh sĩ thiệt mạng và khoảng 360 người bị thương trong chiến dịch kéo dài hơn một tháng. Chi phí chiến tranh tăng nhanh, mỗi ngày tiêu tốn con số khổng lồ cả tỷ USD. Ước tính chiến phí từ 30 tỷ đến 50 tỷ USD trong hơn một tháng qua là đủ để thấy cái giá phải trả cho một cuộc can thiệp quân sự vào nước khác đắt đỏ thế nào. Các tướng lĩnh Mỹ còn cảnh báo con số này có thể còn tăng nếu chiến sự kéo dài kéo theo nguy cơ sa lầy.
Có thể khẳng định, một trong những tổn thất lớn nhất của Mỹ không nằm trên chiến trường mà ở không gian chính trị-ngoại giao. Uy tín của Mỹ với tư cách là người bảo vệ các đồng minh vùng Vịnh đã bị tổn hại nghiêm trọng sau khi Iran tấn công các nước láng giềng trong khu vực. Iran không chỉ nhắm vào các căn cứ của Mỹ mà còn cả hạ tầng cơ sở quan trọng ở vùng Vịnh. Việc Washington phát động chiến dịch mà không tham vấn đầy đủ các đồng minh, đặc biệt là các quốc gia vùng Vịnh càng khiến uy tín của Washington ở khu vực giảm sút.
Trong khi đó, quan hệ với châu Âu và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) cũng trở nên căng thẳng khi các đồng minh cảm thấy bị gạt ra ngoài trong một quyết định có ảnh hưởng toàn cầu. Chuyên gia Daniel Benaim, học giả tại Viện Trung Đông và cựu quan chức cấp cao phụ trách vùng Vịnh tại Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng, việc không lường trước các phản ứng dây chuyền đã khiến Mỹ phải trả giá cả về kinh tế lẫn vị thế chiến lược.
Nhưng tổn thất chiến lược mà Mỹ dường như không lường được trước, đó chính là để Iran có cớ chiếm lấy quyền kiểm soát và siết chặt hơn “yết hầu” năng lượng Hormuz-nơi chỉ cần một động thái quân sự nhỏ cũng đủ khiến giá dầu thế giới chao đảo, tệ hơn là dẫn tới một cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu. Theo ông Daniel Benaim, việc đóng cửa eo biển “đã tạo ra một vũ khí răn đe mới và một vũ khí kinh tế mới” cho Iran. Chia sẻ quan điểm, chuyên gia Ian Ralby thuộc Trung tâm Năng lượng của Hội đồng Đại Tây Dương cho rằng, điều này vô hình trung hợp pháp hóa vai trò kiểm soát của Iran và đặt Tehran vào vị thế có lợi hơn trước chiến tranh.
Việc Iran kiểm soát eo biển Hormuz khiến thị trường năng lượng toàn cầu lâm vào khủng hoảng, đẩy giá dầu tăng mạnh và gây áp lực ngược trở lại nền kinh tế Mỹ. Giá năng lượng tăng, lạm phát nhích lên, tâm lý mệt mỏi vì chiến tranh lan rộng. Đối với Tổng thống Donald Trump, cuộc chiến này dần trở thành một bài toán chính trị không dễ giải, nhất là khi thời điểm bầu cử không còn xa.
Thậm chí, Giáo sư Khoa học chính trị Robert A.Pape từ Đại học Chicago còn đặt câu hỏi: Liệu chiến dịch có trở thành một bước lùi chiến lược kéo dài đối với nước Mỹ? Còn theo cựu Đại sứ Mỹ tại Nga Michael McFaul nhận định, cách hành xử của Washington khiến nước này bị nhìn nhận như “phớt lờ luật lệ quốc tế”.
Nghịch lý đòn phủ đầu
Đối với Israel, chiến dịch không kích Iran mà nước này gọi tên là “Sư tử gầm” phản ánh cách tiếp cận quen thuộc, đó là chủ động tấn công để loại bỏ mối đe dọa từ xa. Tuy nhiên Tel Aviv cũng chỉ đạt được một số kết quả nhất định trong ngắn hạn, bao gồm việc làm suy yếu tiềm lực quân sự và hạt nhân của Iran mà nước này luôn coi là mối đe dọa an ninh quốc gia. Iran không sụp đổ sau đòn phủ đầu mà nhanh chóng tổ chức phản công, đẩy cuộc chiến lan rộng ra toàn khu vực, thậm chí trực tiếp tác động tới lãnh thổ Israel.
Hệ quả là Nhà nước Do Thái lại phải đối mặt với một không gian an ninh bất ổn hơn trước. Hệ thống phòng thủ, vốn được xem là “lá chắn thép”, bắt đầu bộc lộ giới hạn, trong khi thiệt hại thực tế có thể lớn hơn những gì được công bố. Con số 30 người thiệt mạng chưa được kiểm chứng bởi Israel kiểm duyệt gắt gao những thông tin về chiến sự với Iran. Những điều này không chỉ là vấn đề quân sự mà tác động trực tiếp tới tâm lý xã hội và niềm tin vào chính phủ của Thủ tướng Benjamin Netanyahu, vốn đã chịu nhiều sức ép trước đó.
Theo chuyên gia Fawaz Gerges thuộc Trường Kinh tế London, Israel có thể "yếu hơn nhiều" sau cuộc xung đột. Đối với Tel Aviv, thiệt hại về mặt ngoại giao có thể rất đáng kể, đặc biệt là trong khu vực lân cận khi các quốc gia vùng Vịnh sẽ cân nhắc lại việc bình thường hóa quan hệ với Nhà nước Do Thái vốn bị cô lập giữa thế giới Arab.
Iran trụ vững trong cuộc chiến “đọ sức bền”
Iran là bên chịu thiệt hại lớn nhất, cả về con người lẫn cơ sở vật chất. Các cơ sở quân sự và năng lượng của Iran đã bị thiệt hại nặng nề trước các đòn không kích triệt hạ của Mỹ và Israel. Hơn 13.000 mục tiêu quân sự và hạ tầng cơ sở công nghiệp bị tấn công, khoảng 80% hệ thống phòng không và phần lớn năng lực hải quân bị phá hủy. Theo tổ chức nhân quyền HRANA có trụ sở tại Mỹ, hơn 3.600 người ở Iran đã thiệt mạng. Con số này gồm cả lãnh tụ tối cao Ali Khamenei cùng nhiều nhân vật chính trị và quân sự cấp cao khác của Iran.
Tuy nhiên, nếu giai đoạn đầu ở thế bị động thì sau đó Tehran cho thấy khả năng thích ứng khá nhanh, thậm chí duy trì được khả năng răn đe khi vẫn còn hơn 1.000 tên lửa đạn đạo trong kho dự trữ, theo các báo cáo tình báo. Theo chuyên gia Địch Đông Thăng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu khu vực và quốc gia thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc, trong khi Mỹ và Israel tập trung đánh vào năng lực quân sự và bộ máy lãnh đạo của Tehran thì Iran lại mở rộng “cuộc chơi” sang lĩnh vực kinh tế và chính trị.
Việc đẩy mạnh kiểm soát eo biển Hormuz là ví dụ rõ nhất. Khi nguồn cung năng lượng bị đe dọa, áp lực lập tức lan ra toàn cầu-và quay ngược trở lại tác động tới chính các nước tham chiến. Cùng lúc đó, Iran tận dụng các lực lượng ủy nhiệm và mạng lưới trong khu vực để mở rộng mặt trận.
Và trái với kỳ vọng của Washington, Iran có xu hướng đoàn kết hơn trước sức ép bên ngoài, duy trì được các cuộc tấn công trả đũa vào các mục tiêu của Mỹ và Israel bằng một cuộc chiến bất đối xứng chống lại sức mạnh quân sự tối tân, tạo nền tảng cho một cuộc chiến kéo dài. Các quan chức tình báo cấp cao của Mỹ công khai thừa nhận Iran đã từng bước đảo ngược tình thế bất lợi ban đầu. Trong khi Mỹ và Israel vẫn đang tìm cách biến ưu thế quân sự thành kết quả chiến lược rõ ràng thì Iran đã kịp “bẻ lái” cuộc chơi theo hướng kéo dài và tiêu hao.
Cuộc chiến với Mỹ và Israel khiến Iran rút ra bài học về an ninh quốc gia và có thêm động lực để phát triển vũ khí hạt nhân. Xét về khía cạnh nào đó thì đây chính là một thất bại của Mỹ và Israel trong cuộc chiến nếu tiếp tục hay rút lui đều sẽ phải trả giá rất đắt.
(còn nữa)