Biết tôi hiểu được tiếng dân tộc Nùng nên khi trò chuyện thỉnh thoảng anh lại nói xen vào đôi ba câu cho vui (tôi nghĩ thế). Cụm từ "Chắc đẩy kin" (tiếng Nùng có nghĩa là ăn chắc) được anh nhắc đi nhắc lại nhiều lần nên đã gây cho tôi một ấn tượng thú vị. Anh tên là Hoàng Văn Lê, dân tộc Nùng, chi hội trưởng chi hội Cựu chiến binh thôn Đồng Ngầu, xã Cai Kinh, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Hơn mười năm về trước, gia đình anh còn trong danh sách những hộ nghèo của xã. Mà cũng chẳng phải riêng anh, cả cái thôn Đồng Ngầu dưới chân núi đá "chưa mưa đã ngập, chưa nắng đã khô" này, thì đủ ăn còn chật vật chứ nói gì đến làm giàu. Cha mẹ mất sớm, lớn lên anh vào bộ đội, năm 1984 rời quân ngũ trở về hầu như chỉ có hai bàn tay trắng. Có những năm thiếu đói 2-3 tháng, phải làm đủ việc, đủ nghề để kiếm ăn. Nhiều ngày phải ăn thêm khoai thêm sắn mới đủ no. Nhìn những đứa con trong các bữa ăn như vậy, anh ứa nước mắt.

"Không thể để cho cái đói, cái nghèo bám theo mình mãi được", (anh nuôi quyết tâm như vậy). Nhưng phải làm cách nào bây giờ? Anh cũng có nhiều phương án lắm, nhưng phương án nào cũng cần phải có vốn, có tiền mới thực hiện được.

Một dịp may đã đến với anh, năm 1990, Hội cựu chiến binh xã Cai Kinh được thành lập. Một trong những nội dung hoạt động của hội là thực hiện "Chương trình xóa đói giảm nghèo" cho hội viên. Hội đã đứng ra làm các thủ tục vay các nguồn vốn cho hội viên làm kinh tế, trong đó có gia đình anh. Được vay 10 triệu đồng, anh đã làm chuồng trại để chăn nuôi, khai phá đất hoang rồi mua cây giống trồng được 500 cây na dai… Cuộc sống gia đình dần được cải thiện. Nhưng nỗi lo hạn hán, mất mùa vẫn cứ ám ảnh, canh cánh trong lòng. "Tấc đất, tấc vàng", có đất, có ruộng mà thiếu gạo ăn thì vô lý lắm, anh nghĩ vậy. Một con suối cách nhà chưa đến 1km, cách khu ruộng của anh chỉ vài trăm mét mà nhiều đời nay vẫn để nó tự do hung dữ về mùa mưa, cạn kiệt về mùa khô. Anh nghĩ "phải biết lợi dụng nó", rồi đem việc này bàn với dân làng. Công việc đầu tiên là phải đắp một con đập, trước mắt là để lấy nước phục vụ sinh hoạt vào mùa khô hạn, cả làng nhất trí và bắt tay vào làm ngay.

Con đập hoàn thành, anh lại vay vốn ngân hàng hơn 20 triệu đồng và bỏ ra hơn 20 triệu đồng nữa để mua một máy bơm nước, xây một con mương và mua một số thiết bị khác mới hoàn thành hệ thống tưới nước cho cánh đồng. Tôi hỏi về công suất và khả năng tưới của công trình, anh nói: "Mình cũng chưa tính toán được, chỉ biết ruộng đất ở đây là "nó" bảo đảm được hết, một trăm phần trăm "chắc đẩy kin". Đó là chưa kể hàng nghìn cây na của các gia đình xung quanh trồng trên gò cao gặp những năm nắng hạn thì cũng nhờ "nó" tưới tắm cho nên cũng "chắc đẩy kin". Anh thật tốt bụng, ai nhờ cày bừa, xin nước tưới, anh đều giúp đỡ tận tình, không lấy một đồng tiền công.

Từ ngày có trạm bơm, con mương, gia đình anh và các hộ dân nơi đây cấy lúa, trồng màu, trồng na "chắc đẩy kin", đời sống ngày càng ổn định. Riêng gia đình anh hằng năm tiền bán na cũng thu được hơn 30 triệu đồng, tiền thu từ chăn nuôi 10 triệu đồng, các khoản khác gần 10 triệu đồng, trừ chi phí cũng còn được hơn 50 triệu đồng.

Bây giờ gia đình anh đã có ngôi nhà mái bằng khang trang, kiên cố, với đầy đủ tiện nghi. 3 người con của anh đều học hành đến nơi đến chốn. Tôi khen, anh bảo tôi quá lời, rồi nói vui nhưng đầy vẻ hãnh diện: "Bộ đội Ké Hồ mà, liên tục tiến công, vì nhân dân phục vụ".

TRƯƠNG THỌ