QĐND - Nhà tôi nằm cạnh một ga tàu phố huyện. Tôi sinh ra đã có ga tàu. Cha tôi kể đây là tuyến đường sắt phụ nhưng lại là tuyến duy nhất nối đường sắt Bắc-Nam với vùng tây bắc Nghệ An rộng lớn - vùng đất giàu tài nguyên của tỉnh nhà. Trong ký ức xa xăm của tôi, những chuyến tàu xuôi ngược với từng hồi còi dài ngân vang đánh thức nhịp sống yên bình, lặng lẽ của một thị trấn nghèo. Đó là những chuyến tàu từ miền xuôi ngược lên cung ứng hàng hóa từ đồng bằng cho miền núi và chuyển về xuôi đầy ắp những sản vật của rừng. Đặc biệt, những năm 80 của thế kỷ 20, lúc bấy giờ giao thông từ đồng bằng lên “phố núi” chưa dễ dàng, thuận tiện như bây giờ, và nguồn lâm sản từ các huyện liền kề tập kết về đây còn nhiều vô kể, nên tuyến đường sắt này đã trở thành tuyến giao thông huyết mạch.
Ngôi trường tiểu học của tôi ngày ấy rất gần ga tàu. Hằng ngày đến trường, chúng tôi phải băng qua con đường sắt. Mỗi lần đi đến đoạn đường này, chúng tôi thích thú nhất là được đứng ngắm nhìn đoàn tàu xình xịch lao tới như con trăn khổng lồ uốn lượn. Khi đoàn tàu dừng hẳn trong sân ga, cũng là lúc mọi người như hối hả hơn… Hàng đưa xuống nào là mắm muối, hành tỏi, vải vóc; còn xếp lên tàu là đá vôi, quặng thiếc và nhất là các loại gỗ quý hiếm, với đường kính to đến vài người ôm... Chắc hẳn do chở nhiều hàng lại toàn hàng nặng, nên những chuyến tàu về xuôi bao giờ cũng nặng nề, chậm chạp hơn những chuyến tàu ngược lên quê tôi.
Mỗi lần đi học về, được đứng ngắm nhìn đoàn tàu chầm chậm vào ga, về tới nhà tôi thường hỏi cha những câu chuyện không đầu, không cuối. Xoa đầu tôi, cha trả lời cặn kẽ những câu hỏi ngây thơ, như: Vì sao tàu không có bánh mà vẫn chạy được? Tại sao tàu phải kéo còi trước lúc về ga,…? Không chỉ vậy, cha còn kể cho tôi nghe nhiều câu chuyện liên quan đến những đoàn tàu. Đó là chuyện quân dân ta anh dũng, mưu trí cài mìn, đánh chặn đoàn tàu chở binh lính và vật tư chiến tranh của thực dân Pháp trên Quốc lộ 5; chuyện nữ anh hùng Ray-mông-điêng hiên ngang đứng giữa đường ray làm lá chắn không cho đoàn tàu chở binh lính Pháp sang xâm lược Việt Nam; hay hình ảnh đoàn tàu miền Bắc ngày đêm rầm rập thần tốc chở quân giải phóng tiến vào Nam đánh giặc… Thi thoảng, cha còn ngâm thơ và hát những ca khúc về con tàu, đưa tôi vào giấc ngủ tuổi thơ. Cứ thế, tôi lớn lên cùng hành trình miệt mài của những chuyến tàu xuôi ngược. Nhưng rồi không rõ lý do gì, những chuyến tàu dần thưa thớt hơn. Cho đến một ngày kia, tiếng còi tàu chỉ còn trong ký ức...
Đến bây giờ, đường tàu ngày xưa vẫn còn đấy mà cảnh cũ nay đã khác nhiều. Trên nền nhà ga nhỏ bé năm xưa bây giờ là một tòa cao ốc đẹp và rất hiện đại. Cha tôi ra đi không bao lâu sau chuyến tàu cuối cùng năm ấy... Thương nhớ cha, tôi thường kể cho con - cũng trạc tuổi tôi ngày ấy nghe những câu chuyện về con tàu ngày xưa cha kể. Thi thoảng, tôi cũng ngâm thơ và hát lại những ca khúc cha đã hát ru tôi.
… Chiều nay, trong lúc đợi tàu ở ga Hà Nội về miền quê xứ Nghệ, tình cờ đọc trên tờ báo cũ bài thơ “Mùa hoa doi” của Xuân Quỳnh: “Vừa thoáng tiếng còi tàu/ Lòng đã Nam, đã Bắc…”, một cảm xúc xốn xang, nao nao, xao xuyến, bồi hồi từ thẳm sâu ký ức chợt ùa về thổn thức tâm can người lính trẻ như bâng khuâng một tiếng còi tàu!
Hà Nội, một chiều trên sân ga
BÙI HỒNG MẠNH