II. Nhận diện những thách thức sinh tử trên hành trình đất nước vươn mình 

 Con đường đi tới vinh quang của dân tộc không bao giờ là thảm đỏ trải đầy hoa hồng. Càng tiến gần đến cái đích của một quốc gia phát triển, những lực cản, những khúc quanh và những rào dậu thách thức càng trở nên khốc liệt, tinh vi. Chúng ta không thể ảo tưởng về một tương lai dễ dàng. Nhận diện thẳng thắn, không né tránh các thách thức ngặt nghèo là biểu hiện cao nhất của lòng dũng cảm chính trị và năng lực tư duy biện chứng.

1. Nút thắt của mọi nút thắt: Tầm nhìn và điểm nghẽn thể chế

 Thực tiễn đang chỉ ra rằng, lực cản lớn nhất đối với sự phát triển của Việt Nam hiện nay không phải là thiếu vốn, thiếu tài nguyên, mà là vấn đề địa chính trịsự tụt hậu, chồng chéo của thể chế. Tự vượt qua mình là một cuộc vượt cạn, nhưng kiến tạo địa chính trị bằng nội lực của mình để quyết không lẽo đẽo đi theo người khác, trong khi hệ thống luật pháp, quy định hiện hành tầng tầng lớp lớp, chồng chéo, rườm rà, lạc hậu đang là sợi dây tự trói buộc mình, vừa gây lãng phí cơ hội đầu tư và vừa làm nản lòng doanh nghiệp.

Tình trạng một bộ phận cán bộ, công chức có tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh công việc là một biểu hiện nguy hiểm của căn bệnh "bại liệt hành chính". Khi hệ thống quy định pháp luật thiếu sự đồng bộ, ranh giới giữa đổi mới sáng tạo và vi phạm quy định trở nên mong manh, người ta chọn giải pháp an toàn là "không làm gì để không sai". Đây là một thách thức ngặt nghèo kìm hãm dòng chảy năng lượng quốc gia. Nếu không tháo gỡ được điểm nghẽn thể chế, chúng ta sẽ lỡ chuyến tàu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và kỷ nguyên vươn mình sẽ chỉ dừng lại trên giấy.

Khối Tác chiến điện tử tiến vào lễ đài diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ảnh minh họa: qdnd.vn

2. Thách thức từ bộ máy cồng kềnh, kém hiệu năng, hiệu quả

Quốc gia muốn phát triển nhanh không thể mang một bộ máy cồng kềnh, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ và tiêu tốn quá nhiều năng lượng quốc gia. Nhiều tầng nấc trung gian làm chậm tiến độ thực thi chính sách, làm loãng trách nhiệm cá nhân. Ngân sách “nuôi” cho bộ máy vận hành vẫn chiếm tỷ trọng lớn, làm thu hẹp nguồn lực dành cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược. Sự cản trở từ thói quan liêu, xa dân, bệnh hình thức, hội thảo rầm rộ nhưng hiệu quả thực tế thấp chính là những thách thức nội tại đe dọa trực tiếp đến tính chính danh và năng lực dẫn dắt của Đảng.

3. Cơn lốc địa chính trị toàn cầu và sự thay đổi “luật chơi” quốc tế

Thế giới đang trải qua giai đoạn chuyển dịch trật tự cục diện sâu sắc nhất kể từ sau Chiến tranh lạnh. Cạnh tranh chiến lược giữa các siêu cường ngày càng gay gắt, đẩy các quốc gia tầm trung và nhỏ vào những thế kẹt địa chính trị hiểm nghèo. Xu hướng bảo hộ thương mại, sự phân rã của chuỗi cung ứng toàn cầu và việc vũ khí hóa các công cụ kinh tế đang làm đảo lộn nhiều giá trị.

Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn quốc tế mới về phát triển bền vững như ESG (Môi trường - xã hội - quản trị), cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) hay các quy định nghiêm ngặt về trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo ra những rào cản kỹ thuật khổng lồ đối với hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam. Nếu không nhanh chóng thích ứng, nâng cấp trình độ công nghệ và tiêu chuẩn sản xuất, nền kinh tế Việt Nam sẽ bị gạt ra lề, rơi vào vị trí vùng trũng gia công thấp của thế giới.

III. Con đường phát triển và các đột phá chiến lược phát triển toàn thiện, đồng bộ và thống nhất quốc gia 

Trong bối cảnh lịch sử đầy biến động và cơ hội của thế kỷ XXI, Việt Nam không thể và không được phép là một kẻ đi sau cúi đầu, rập khuôn mù quáng. Chúng ta tiếp thu những giá trị phổ quát, những quy luật thống nhất của sự phát triển nhân loại, nhưng phải vận hành đất nước độc lập, phù hợp trên nền tảng thực tiễn lịch sử của dân tộc bản sắc.

1. Bản chất mở và sức sống thời đại của nền tảng đường lối phát triển Việt Nam

Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận đường lối đổi mới không phải là một hệ thống các công thức biệt lập, mà là triết lý hành động vĩ đại vì con người và vì dân tộc. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt của chủ thuyết phát triển Việt Nam là: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; độc lập của Tổ quốc phải đi liền với tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.  Nhưng, hệ thống lý luận của Đảng phải được nâng tầm ra sao, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc kiên định bản chất Chủ nghĩa Mác-Lênin, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận đường lối đổi mới như thế nào, khi tình thế lịch sử dân tộc và toàn thế giới đã thay đổi. 

Trong bối cảnh thế kỷ XXI, tầm nhìn viễn kiến ấy cần được phát triển để trả lời những câu hỏi của thời đại mới.

Độc lập ngày nay không chỉ là chủ quyền lãnh thổ, biên giới, vùng trời, vùng biển, mà còn là chủ quyền số, chủ quyền dữ liệu quốc gia, độc lập về công nghệ và khả năng tự chủ chiến lược trước sự xoay trục của các cường quốc.

Tự lực cánh sinh ngày nay không còn là tự cung tự cấp, đóng cửa cài then mà là "đem sức ta mà giải phóng cho ta" trong một thế giới hội nhập sâu sắc; là năng lực tự cường để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu bằng tư thế của một đối tác ngang hàng, không bị phụ thuộc hay bị tổn thương bởi các cú sốc bên ngoài.

Thực tiễn nhiều lần khẳng định, phát triển chính là quá trình bản sắc hóa các giá trị tinh hoa của nhân loại, biến các quy luật phổ quát thành phương pháp luận phù hợp với cấu trúc văn hóa, tâm lý và đặc thù lịch sử của người Việt Nam. Lý luận của kỷ nguyên vươn mình phải lấy hạnh phúc, sự an toàn và quyền làm chủ thực chất của nhân dân làm thước đo tối cao.

Nếu một chính sách kinh tế thúc đẩy tăng trưởng GDP nhưng làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo quá mức, làm kiệt quệ môi trường sinh thái, thì đó không phải là tư chất và phẩm giá của chủ nghĩa xã hội Việt Nam.

Con đường bản sắc của Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phú cường được định hình rõ nét qua trục tư tưởng chiến lược - mô hình lập thuyết bền vững dựa trên thế kiềng ba chân vững chãi:

Dân tộc là điểm tựa - Sức mạnh của lòng tự tôn và chủ quyền tuyệt đối. Hành trình vươn lên của Việt Nam phải bắt đầu từ điểm tựa vững chắc nhất: Khối đại đoàn kết dân tộc và lòng tự tôn lịch sử.

Độc lập, tự chủ và tự cường: Đây là hằng số bất biến trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta. Việt Nam hội nhập sâu rộng nhưng luôn giữ vững độc lập về chính trị, tự chủ về kinh tế và kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Chúng ta là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước, nhưng chúng ta không chọn bên, chúng ta chọn chính nghĩa và lợi ích tối cao của dân tộc.

Khơi dậy khát vọng phát triển: Điểm tựa dân tộc phải được cụ thể hóa thành ý chí bứt phá, lòng tự hào và khát vọng chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu của gần 100 triệu đồng bào trong và ngoài nước. Sức mạnh nội sinh ấy chính là nguồn năng lượng vô tận để biến một quốc gia đi sau thành một quốc gia tiên phong.

Nhân dân là trung tâm - Triết lý cốt lõi của mọi sự phát triển. Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam kết tinh chân lý tối thượng: Có dân là có tất cả, mất dân là mất hết; không có nhân dân, không có phú cường.

Nhân dân là chủ thể sáng tạo: Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải bắt nguồn từ tâm tư, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân. Phải tạo ra cơ chế thực chất để nhân dân được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra, được giám sát và được thụ hưởng.

Nhân dân là mục tiêu cuối cùng: Sự phát triển không thể đo bằng sự giàu có của một nhóm thiểu số, mà phải bằng sự nâng cao toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng. Một xã hội phú cường của Việt Nam phải là một xã hội công bằng, văn minh, nơi không một ai bị bỏ lại phía sau.

Văn hóa là nền móng - tấm căn cước quốc gia để bước ra thế giới. Nếu kinh tế là dòng máu nuôi dưỡng cơ thể quốc gia, chính trị là hệ thần kinh điều khiển, thì văn hóa chính là linh hồn, là hệ thống miễn dịch giúp quốc gia trường tồn trước mọi phong ba bão táp. Đây chính là sức mạnh nội sinh của phát triển. Văn hóa không đứng ngoài kinh tế, văn hóa phải thấm sâu vào mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội. Đồng thời, văn hóa là bộ nhận diện trên trường quốc tế, để bước ra biển lớn toàn cầu hóa, đối thoại với thế giới không chỉ bằng những con số tăng trưởng xuất nhập khẩu, mà bằng tầm vóc của một nền văn hiến rực rỡ và lâu đời.

2. Yêu cầu về sự hoàn thiện lý luận đường lối chính trị phát triển 

Một đảng lãnh đạo, cầm quyền không có lý luận dẫn đường sẽ rơi vào trạng thái "mù lòa", dễ bị cuốn xô bởi những cơn lốc xoáy của thời cuộc toàn cầu hóa.

Lý luận không phải là những giáo điều xơ cứng nằm trong tủ kính bảo tàng, mà là dòng chảy sinh động, liên tục tự làm mới trong lòng thực tiễn. Đường lối chính trị của Đảng là kết quả của sự phát triển lý luận, do đó, không bao giờ là kết quả của những suy tưởng chủ quan, biệt lập, càng không phải là sự chắp vá khiên cưỡng các mảnh ghép tri thức rời rạc. Đó là kết tinh đỉnh cao của trí tuệ, là một cấu trúc khoa học chỉnh thể, nơi lý luận chính trị giữ vai trò định hướng tinh thần, còn lý luận chuyên ngành và liên ngành đóng vai trò bồi đắp máu thịt, kiểm chứng thực tiễn. 

Trong mối quan hệ biện chứng giữa ba tầng bậc lý luận này không chỉ là đòi hỏi của công tác nghiên cứu, mà cốt lõi hơn, là một vấn đề mang tính sinh mệnh, quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Lý luận chính trị là cái gốc, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tiến trình hoạch định đường lối. Nó không phải là những giáo điều xơ cứng, đứng biệt lập trên tháp ngà, mà là hệ thống phương pháp luận khoa học sắc bén nhất để nhận thức thế giới và cải biến thế giới. Lý luận chính trị mang lại cho người kiến tạo đường lối một thế giới quan đúng đắn, một nhãn quan chiến lược để nhìn rõ xu thế vận động khách quan của thời đại, từ đó xác định mục tiêu tối hậu, bản chất chế độ và con đường đi lên của dân tộc. 

Nếu ví đường lối chính trị như một con tàu vượt đại dương thì lý luận chính trị chính là ngọn hải đăng và chiếc kim chỉ nam. Không có ngọn hải đăng ấy, con tàu sẽ mất phương hướng, dễ rơi vào cái bẫy của chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy hoặc bị sóng gió của các trào lưu tư tưởng phiến diện xô lệch và chi phối. Lý luận chính trị thiết lập các nguyên tắc mang tính giới hạn và ý nghĩa nền tảng: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; và Đảng lãnh đạo là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Đây là cái khung bất biến ứng với vạn biến thời đại.

Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở những nguyên lý phổ quát của lý luận chính trị, đường lối sẽ có nguy cơ trở thành lý luận suông, xơ cứng và bất lực trước sự biến đổi sống động của thực tế. Lúc này, lý luận chuyên ngành (kinh tế học, luật học, xã hội học, môi trường, an ninh...) và lý luận liên ngành (trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, an ninh phi truyền thống, kinh tế tuần hoàn...) chính là những công cụ đo lường, phân tích và cụ thể hóa các nguyên lý chính trị thành những mục tiêu định lượng, những giải pháp khả thi.

Lý luận chuyên ngành cắt nghĩa các quy luật vận động mang tính đặc thù của từng lĩnh vực. Chẳng hạn, khi lý luận chính trị đề ra mục tiêu "dân giàu, nước mạnh", thì lý luận kinh tế chuyên ngành phải vào cuộc để giải quyết bài toán về mô hình tăng trưởng, cấu trúc phân phối, năng suất lao động và cơ chế vận hành của thị trường. Lý luận pháp quyền phải xác lập hệ thống quy phạm để minh bạch hóa thể chế. Không có tri thức chuyên ngành sâu sắc, đường lối chính trị dễ rơi vào trạng thái duy ý chí, lãng mạn chính trị hoặc giáo điều, phi thực tế.

Trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thế giới không còn vận động theo các đường ranh giới hành chính hay học thuật đơn lẻ. Các thách thức mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu, khủng hoảng an ninh mạng, hay đại dịch đòi hỏi một tư duy vượt ranh giới - đó là lý luận liên ngành. Lý luận liên ngành kết nối các dòng chảy tri thức khác nhau để giải quyết một bài toán phức tạp mang tính hệ thống. Bản chất của đường lối chính trị hiện đại chính là một sản phẩm liên ngành ở cấp độ cao nhất. Nó bắt buộc phải tích hợp, chuyển hóa các phát hiện của khoa học công nghệ, tâm lý học xã hội, địa chính trị học thế giới thành năng lực quản trị quốc gia.

Mối quan hệ giữa lý luận chính trị với lý luận chuyên ngành và liên ngành trong xây dựng đường lối không phải là quan hệ thứ bậc hành chính, mà là sự tương tác biện chứng, thẩm thấu và nâng tầm lẫn nhau.

Lý luận chính trị định hướng và dẫn dắt: Nó đặt hàng lịch sử cho các ngành khoa học chuyên ngành và liên ngành. Lý luận chính trị bảo đảm rằng mọi phát minh, mọi mô hình kinh tế hay giải pháp kỹ thuật đều phải phục vụ cho mục tiêu tối thượng là hạnh phúc của nhân dân và sự vững bền của chế độ. Nó giữ cho khoa học chuyên ngành không bị cô lập, mù quáng, không bị cuốn theo lợi ích nhóm hay các xu hướng vị kỷ dân tộc hẹp hòi hay tư bản vị kỷ.

Lý luận chuyên ngành, liên ngành làm giàu và kiểm chứng: Ngược lại, thực tiễn sinh động thông qua các khám phá của khoa học chuyên ngành và liên ngành sẽ cung cấp chất liệu để bổ sung, phát triển lý luận chính trị. Một đường lối đổi mới đúng đắn chỉ có thể ra đời khi các quy luật kinh tế (như quy luật giá trị, quy luật cung cầu) được thừa nhận và vận dụng một cách khoa học trong lòng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính sự thành công hay thất bại của các lý thuyết chuyên ngành trong thực tế là thước đo kiểm nghiệm tính đúng đắn của phương pháp luận chính trị kiến tạo đường lối.

Nếu tuyệt đối hóa lý luận chính trị mà hạ thấp lý luận chuyên ngành, chúng ta sẽ rơi vào căn bệnh "kinh viện", nói rất hay nhưng làm không được, đường lối sẽ trở nên lơ lửng. Ngược lại, nếu sa đà vào kỹ thuật chuyên ngành mà xa rời chính trị, sẽ rơi vào nguy cơ chệch hướng, mất tính đảng, tính nhân dân, biến các quyết sách vĩ mô thành những mảnh vụn kỹ trị chắp vá, vô hồn.

Nói khái lược, tầm viễn kiến, bản lĩnh, trí tuệ và đứng vững trên mảnh đất của mình, đó là liên kết sinh mệnh giữa lý luận chính trị, lý luận chuyên ngành và liên ngành là những riềng mối căn bản trong kiến tạo đường lối chính trị hiện thực trong tầm nhìn tương lai tầm vóc thế kỷ.        

(còn nữa)