Tư tưởng mà không đi đôi với hành động thì chỉ là tư tưởng ảo giác. Lý luận tách rời thực tiễn thì chỉ là lý luận suông, giáo điều và vô dụng. Để hiện thực hóa con đường bản sắc Việt Nam phú cường, tối thiểu tiến hành đồng bộ mang tính cách mạng về hành động ở tầm chiến lược:
Trên lộ trình tổng thể, thống nhất, việc lựa chọn đúng và trúng những đột phá mang ý nghĩa rất quan trọng.
Thứ nhất, cuộc cách mạng về tư duy và thể chế, đổi mới căn bản tư duy lập pháp và thể chế: Từ quản lý sang khơi thông.
Kiên quyết từ bỏ tư duy nhiệm kỳ, cục bộ, cát cứ. Hoàn thiện một hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, ổn định và có tầm nhìn dài hạn. Cắt giảm tối đa các thủ tục hành chính hành dân, hành doanh nghiệp. Kiến tạo thể chế giải phóng sức sáng tạo. Phải xây dựng cho kỳ được cơ chế pháp lý xứng đáng bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung; đồng thời, thiết lập hệ thống kiểm soát quyền lực nghiêm khắc, chặt đứt mọi vòi bạch tuộc của lợi ích nhóm, nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Con đường phát triển phải bắt đầu từ việc dỡ bỏ các rào cản thể chế, với các bước chuyển chiến lược: Chuyển mạnh tư duy làm luật từ quản lý hành chính sang khơi thông nguồn lực, kiến tạo phát triển. Luật pháp phải là bệ đỡ, là hành lang để kích hoạt các nguồn vốn tiềm tàng trong xã hội, thay vì là những chiếc vòng kim cô thắt chặt dòng chảy kinh tế, vô hình bóp nghẹt hơi thở của toàn xã hội. Hoạ nảy nòi từ đây và lũng đoạn. Kiên quyết từ bỏ tư duy ngắn hạn, thiên lệch, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ của các bộ, ngành, cát cứ vùng miền, bằng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật toàn diện, thống nhất, văn minh, công bằng và nhân văn.
 |
| Ảnh minh họa: TTXVN |
Mặt khác, thực hiện phân cấp, phân quyền một cách triệt để, mạnh mẽ theo nguyên tắc "Địa phương quyết định, địa phương hành động, địa phương chịu trách nhiệm". Trung ương không làm thay việc của địa phương mà tập trung vào xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể, hoàn thiện hệ thể chế và kiểm tra, giám sát. Cơ chế này sẽ giải phóng tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của các vị thủ lĩnh địa phương, chấm dứt tình trạng chạy chọt, ôm đồm tại các cơ quan Trung ương.
Thứ hai, cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy: Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu quả.
Đây được xem là một trong những quyết tâm chính trị lớn nhất, quyết liệt nhất của Đảng nhằm tháo gỡ lực cản trước hết từ trong nội tại. Dũng cảm thực hiện cuộc đại phẫu thuật cắt bỏ những nhánh bám cồng kềnh, những tổ chức trung gian không rõ chức năng. Bộ máy hệ thống chính trị phải được tái cấu trúc theo hướng tinh giản tối đa đầu mối, giảm biên chế thực chất, tăng tỷ lệ cán bộ chuyên môn có trình độ cao và phẩm hạnh tương xứng.
Xây dựng một nền hành chính quốc gia hiện đại, vận hành trên nền tảng dữ liệu số, nơi các quy trình được tự động hóa, minh bạch hóa để loại bỏ những lực cản, hệ luỵ phản phát triển. Giảm tầng nấc cũng đồng nghĩa với việc tăng tốc độ phản ứng chính sách. Trong một thế giới thay đổi khôn lường, càng có tốc độ phản ứng chính sách nhanh hơn, càng sẽ giành chiến thắng. Nguồn ngân sách tiết kiệm được từ việc tinh gọn bộ máy sẽ dành đầu tư cho hạ tầng và nâng cao chế độ đãi ngộ đội ngũ công chức, xây dựng công chức thành một nghề danh giá, đủ sống bằng lương để tận tâm cống hiến.
Thứ ba, cuộc cách mạng tri thức và công nghệ: Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển toàn diện vì và cho con người.
Muốn đi nhanh phải bằng công nghệ, nhưng muốn phát triển bền vững và nhân văn, phải từ con người trong một nền văn hóa bản sắc và hiện đại. Con đường vươn mình của Việt Nam bắt buộc phải đi qua thung lũng của công nghệ cao. Mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030 là một con số đầy kỳ vọng nhưng hoàn toàn khả thi, nếu chúng ta kích hoạt thành công chuỗi động lực khoa học công nghệ - giáo dục đào tạo - phát triển con người.
Đầu tư thích đáng cho khoa học công nghệ quốc gia: Chủ động, tích cực tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu bằng các sản phẩm công nghệ cao mang thương hiệu "Make in Vietnam". Không thể trong thân phận gia công, lắp ráp ở phân khúc đáy của chuỗi giá trị.
Để đón đầu và làm chủ các công nghệ cốt lõi của thời đại như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ sinh học, điện toán đám mây và năng lượng tái tạo, không thể dừng lại ở việc mua công nghệ hay gia công lắp ráp thô mà phải xây dựng các trung tâm nghiên cứu quốc gia, các tập đoàn công nghệ thuần Việt có khả năng cạnh tranh toàn cầu. Đồng thời, đổi mới thực chất trong giáo dục đại học và dạy nghề theo hướng phải gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường và các xu hướng phát triển công nghệ mới. Do đó, cần đào tạo hàng trăm ngàn kỹ sư chất lượng cao ngành bán dẫn và AI để đón làn sóng chuyển dịch đầu tư công nghệ cao toàn cầu.
Vấn đề quan trọng bậc nhất, giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam thật sự là nền tảng tinh thần vững chắc. Con người phải là những công dân toàn cầu, có tư duy phản biện, kỹ năng số thuần thục, tác phong công nghiệp chuyên nghiệp nhưng đồng thời mang trong mình lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn dân tộc và các giá trị nhân văn truyền thống tốt đẹp Việt Nam và thật sự có tiếng nói và đóng góp phát triển văn hoá nhân loại bằng danh dự, sức mạnh và uy tín đất nước.
Thứ tư, nắm lấy tinh hoa thời đại và hiện thực hóa chúng bằng bản lĩnh và phương thức Việt Nam. Sự phát triển thống nhất của thế giới đem lại cho chúng ta những bài học lớn về phát triển. Nhưng, chính bản sắc Việt Nam là bảo đảm định hướng và là động lực đối với đất nước và Việt hóa giá trị nhân loại để vượt lên chính mình và mọi thách thức của chính thời đại. Công tác đối ngoại được đặt ngang hàng với nhiệm vụ then chốt là quốc phòng và an ninh quốc gia. Chỉ có như thế, Việt Nam không còn là quốc gia đứng bên lề để thích nghi với các luật chơi quốc tế, bước lên tâm điểm thế giới thật sự quyền biến, khôn khéo về phương pháp nhưng kiên định, vững chãi về nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự cường và bản sắc.
IV. Sứ mệnh lịch sử và trọng trách lãnh đạo, cầm quyền của Đảng
Bất kỳ giai đoạn lịch sử nào cũng đặt lên vai Đảng tiên phong những sứ mệnh nặng nề. Với tư cách là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam gánh vác trọng trách dẫn dắt quốc gia bước vào kỷ nguyên vươn mình. Đây không chỉ là quyền lực chính trị được hiến định, mà là khế ước lịch sử, khế ước niềm tin giữa Đảng và Nhân dân, danh dự của Đảng trước toàn thế giới.
1. Phát triển lý luận xây dựng và phát triển đường lối chính trị
Bối cảnh hiện nay đặt ra những thách thức chưa từng có đối với công tác hoạch định đường lối của Đảng. Sự đan xen giữa thời cơ và nguy cơ đòi hỏi một tầm nhìn xa và độc lập, sự đột phá sáng tạo và hiện thực trong tư duy tích hợp phát triển lý luận chính trị, hoạch định và tổ chức thực thi đường lối chính trị.
Một là, kiên quyết khắc phục tình trạng cát cứ lý luận. Không thể để tồn tại bức tường ngăn cách giữa những người làm lý luận chính trị với những nhà khoa học chuyên ngành, liên ngành. Đường lối phải là sản phẩm hội tụ của các bộ óc tinh hoa nhất, nơi các nhà chính trị biết lắng nghe phản biện khoa học và các nhà khoa học không ngừng đổi mới tư duy tiên phong trong hoạch định tầm nhìn chiến lược phát triển quốc gia.
Hai là, đổi mới mạnh mẽ phương thức tổng kết thực tiễn. Thực tiễn đổi mới tại Việt Nam là một kho tàng vô giá nhưng chưa được khai thác, lý giải một cách thấu đáo ở tầm liên ngành. Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể chỉ bằng những khẩu hiệu hành chính mà phải bằng những luận cứ khoa học chuyên ngành sinh động và phức tạp, bằng sự ưu việt của mô hình phát triển quốc gia được chứng minh qua các chỉ số kinh tế - xã hội cụ thể.
Ba là, nâng cao năng lực tư duy liên ngành của đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Người lãnh đạo hiện đại không chỉ cần một bản lĩnh chính trị vững vàng, mà phải có một phông văn hóa đủ rộng lớn, tri thức chuyên môn đủ sâu và khả năng kết nối liên ngành đủ tầm để ra quyết định độc lập, sáng tạo, không giáo điều. Đó cũng là đạo đức công vụ của mỗi đảng viên, cán bộ; là triết lý kinh doanh thượng tôn pháp luật và trách nhiệm xã hội của mỗi doanh nhân; là lối sống nhân văn, cộng đồng của mỗi người dân.
Đường lối chính trị đúng đắn chỉ có ý nghĩa dẫn dắt và trở thành thực tiễn khi lý luận chính trị, lý luận chuyên ngành và liên ngành hòa quyện trong nhau như dòng máu chảy trong một cơ thể sống trên cơ sở thống nhất giữa sức mạnh tổng hợp của trí tuệ dân tộc, vừa mang tính kiên định cách mạng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, di sản lý luận đường lối đổi mới, vừa mang hơi thở năng động, tiến bộ của khoa học công nghệ thời đại.
2. Phát triển đội ngũ lý luận gia ngang tầm khát vọng phát triển quốc gia
Một học thuyết chỉ trở thành vũ khí vạn năng khi nó tắm mình trong dòng chảy thực tiễn và được dẫn dắt bởi trí tuệ và bản lĩnh tiên phong. Kỷ nguyên mới cần những người có tầm viễn kiến chiến lược trong hoạch định chính sách vĩ mô và đồng thời chuyển hóa đường lối thành thực tiễn, lấy sự đồng thuận, niềm tin và hành động thống nhất của Nhân dân làm thước đo tối cao cho tính đúng đắn của mọi chính sách.
Trong kỷ nguyên số - nơi ma trận thuật toán xuyên biên giới đang hằng giờ chi phối tâm thức xã hội - công tác xây dựng đội ngũ lý luận gia không thể gồm những hạng “một là thực tiễn mù quáng và hai là lý luận suông” ẩn trong tháp ngà hàn lâm cô độc, mà phải tụ hội nhân tài bốn phương xứng đáng là bộ tham mưu chiến lược, tham gia trực tiếp hoạch định và tổ chức thực tiễn đường lối chính trị của Đảng.
Một lý luận gia chân chính trước hết phải mang cốt cách của một chính trị gia viễn kiến và đầy bản lĩnh, một nhà tổ chức thực tiễn dũng cảm và sáng tạo và một người tổ chức tài ba, cầu thị và kiểm định thực thi đường lối nghiêm cẩn và thiết thực. Do thế, ở tư thế của một chính trị gia, họ không đứng bên lề để bình luận lịch sử mà mang tầm nhìn nghìn dặm để thiết kế tương lai, giữ vững bản lĩnh trước ma trận thông tin và những cơn sóng ngầm đầy hiểm họa của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cơ hội chính trị.
Theo đó, đội ngũ lý luận gia hiện nay phải là sự kết tinh nhuần nhuyễn và thống nhất giữa lý luận chính trị sống động và lý luận chuyên ngành, liên ngành và cụ thể, thiết thực. Lý luận chính trị nếu tách rời thực tiễn kinh tế, công nghệ, quản trị quốc gia sẽ chỉ là những quyết định chung chung, thậm chí bất lực trước các bài toán phát triển đất nước. Ngược lại, việc hoạch định đường lối nếu thiếu tầm nhìn lý luận chính trị sẽ dễ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa cô độc hẹp hòi và tư duy nhiệm kỳ đoản hậu. Và, tầm nhìn chính trị chiến lược sẽ chỉ là những ảo ảnh nếu thiếu đi đôi bàn tay của một nhà tổ chức thực tiễn cụ thể.
Nói một cách hình ảnh, một lý luận gia hiện đại phải mang tầm vóc của một nhà hiền triết nhưng sở hữu đôi bàn tay của người tổ chức thực tiễn; vừa am tường quy luật phát triển, vừa thấu suốt ngôn ngữ của trí tuệ nhân tạo (AI), kinh tế xanh một cách thiết thực để biến đường lối của Đảng thành hiện thực. Hơn nữa, lý luận gia không thể chỉ nói bằng ngôn từ của đường lối mà phải dẫn dắt ngôn ngữ hành động thống nhất của Nhân dân để chuyển mọi quyết sách chính trị thành hành động, chuyển tư tưởng thành sức mạnh vật chất và sự phồn vinh của đất nước.
Đặc biệt, họ phải là những người gác đền tư tưởng quả cảm, giữ vai trò kiểm định đường lối bằng hiện thực; dũng cảm giải phẫu những điểm nghẽn chính sách, xoá bỏ những ung nhọt của tư duy nhiệm kỳ, nâng niu sự đồng thuận của Nhân dân làm thước đo tối cao để tiếp tục kiến tạo và phát triển sáng tạo đường lối chính trị ở tầm cao mới, phù hợp với đất nước, mang hơi thở thời đại và trường tồn trong dòng chảy tư tưởng dân tộc và thế giới.
Khi và chỉ khi đội ngũ lý luận gia bao hàm các chính trị gia - khoa học gia - chiến lược gia - kỹ trị gia - doanh gia đứng vững trên mảnh đất thực tiễn, kết tinh tri thức học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận đổi mới và với tri thức liên ngành không chỉ trong hoạch định, định chế, tổ chức thực hiện đường lối, lý luận, thực sự trở thành người dẫn dắt, mà còn là lá chắn kiên cường, lưỡi gươm sắc bén bảo vệ và tự phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng.
3. Sứ mệnh tự đổi mới, tự chỉnh đốn, mãi mãi xứng đáng là "đạo đức”, “văn minh"
Đại hội XIV xác quyết: Xây dựng Đảng văn minh. Đảng tiêu biểu cho trí tuệ, đạo đức và danh dự của dân tộc. Đảng không thể dẫn dắt xã hội văn minh nếu tự thân hệ thống của Đảng còn rơi vào tình trạng xơ cứng, quan liêu, một bộ phận cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Sứ mệnh cầm quyền đòi hỏi phải thực hiện cuộc cách mạng trong chính nội bộ mình nhằm thiết lập và phát triển môi trường chính trị minh bạch, nơi quyền lực được kiểm soát bằng luật pháp nghiêm minh và đạo lý nhân văn, nơi cái tốt được bảo vệ, người dám nghĩ dám làm được trọng dụng, và cái xấu, sự lười nhác, vô cảm bị đào thải.
Đó cũng là cuộc chiến khổng lồ chống lại những gì hủ bại, lạc hậu, những kẻ thù, nhất là chủ nghĩa cá nhân - thứ "giặc nội xâm" đáng sợ nhất làm Đảng hư hỏng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo. Đảng đổi mới phương thức lãnh đạo, chuyển từ mệnh lệnh lãnh đạo sang lãnh đạo bằng uy tín, bằng nêu gương và bằng sự thuyết phục, bằng những chính sách mang lại lợi ích thiết thực cho Nhân dân, bằng pháp luật, bằng khoa học công nghệ phục vụ công việc lãnh đạo, cầm quyền.
Khi ý Đảng trong lòng dân hợp thành một thể thống nhất, khi hơn 100 triệu đồng bào mang trong mình ý chí tự lực, tự cường, nhất định đất nước thoát khỏi bóng tối của thói quan liêu, phường hội cát cứ, cuốn trôi mọi lực cản của sự trì trệ và cả sự sợ hãi vô hình, sánh vai với các cường quốc, bằng nguồn năng lượng nội sinh mới mẻ và vô tận của Nhân dân.
Đó là thước đo trình độ văn minh và phẩm giá đạo đức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và nền chính trị Việt Nam.
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc hiện thực tương lai đòi hỏi hệ thống lý luận chính trị sắc bén soi đường, ngang tầm sứ mệnh lịch sử, với mô hình phát triển và con đường đột phá và hành động thống nhất, tiếp tục nâng bước chuyển của lịch sử đất nước. Nhưng mọi lý luận, mọi chiến lược vĩ mô sẽ trở nên vô nghĩa nếu không chạm được vào trái tim, khối óc của hơn một trăm triệu đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài nước.
Ở bước ngoặt lịch sử vĩ đại năm 2026, nhìn tới năm 2045, với tầm chính trị viễn kiến, tấm căn cước văn hóa và lòng tự tôn dân tộc, với sự vững chãi của lòng dân, Việt Nam nhất định bước vào hàng ngũ các quốc gia phát triển với phong thái độc lập, tự chủ và bản sắc của mình.
Đó là nơi hội tụ và thể hiện sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc với lòng tự tôn, vì quốc gia tự cường. Và, đó không chỉ là đích đến của một mô hình phát triển bản sắc, mà còn là sự khẳng định vị thế, sức mạnh, bản lĩnh và danh dự của dân tộc Việt Nam nhịp bước cùng thời đại.