Trong lịch sử dân tộc, người nông dân chưa bao giờ chỉ là lực lượng sản xuất. Họ là người giữ đất, giữ làng, giữ phong tục, giữ tiếng nói, giữ ký ức cộng đồng và giữ cả sức bền văn hóa của quốc gia. Từ mái đình, bến nước, lũy tre, cánh đồng, phiên chợ quê đến những lễ hội làng, nghề thủ công, món ăn dân dã, câu ca dao, điệu hò, người nông dân đã âm thầm làm nên một phần rất sâu của bản sắc Việt Nam.

Có thể nói, nếu văn hóa Việt Nam là một dòng sông lớn thì làng quê chính là một trong những mạch nguồn bền bỉ nhất. Ở đó, con người học cách sống với thiên nhiên, sống với cộng đồng, sống có trước có sau, có nghĩa, có tình. Ở đó, mỗi mùa vụ không chỉ là kết quả của lao động, mà còn là sự tích tụ của kinh nghiệm, niềm tin, nghi lễ, phong tục và đạo lý. Người nông dân gieo hạt trên đất, nhưng cũng gieo vào đời sống dân tộc những giá trị căn cốt: Cần cù, nhẫn nại, thủy chung, tiết kiệm, đoàn kết, gắn bó với quê hương.

Xây dựng văn hóa nông dân trong kỷ nguyên mới trước hết là xây dựng một kiểu người nông dân mới. Ảnh minh họa: daibieunhandan.vn

Nhưng hôm nay, nông thôn đang thay đổi rất nhanh. Cánh đồng không còn chỉ gắn với con trâu, cái cày, mà đã gắn với máy móc, dữ liệu, mã vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn. Người nông dân cũng không thể chỉ được nhìn nhận bằng sự cần cù, chịu khó, mà còn phải được nhìn nhận ở năng lực học hỏi, làm chủ công nghệ, tổ chức sản xuất, xây dựng thương hiệu và tham gia thị trường.

Chính vì vậy, xây dựng văn hóa nông dân trong kỷ nguyên mới trước hết là xây dựng một kiểu người nông dân mới: Biết sản xuất có trách nhiệm, biết hợp tác, biết giữ chữ tín, biết tôn trọng pháp luật, biết bảo vệ môi trường, biết tự hào về quê hương và biết kể câu chuyện văn hóa của sản phẩm mình làm ra. Đó là người nông dân không đứng ngoài tiến trình hiện đại hóa, mà bước vào tiến trình ấy bằng sự tự tin, bằng tri thức, bằng phẩm giá lao động và bằng bản lĩnh văn hóa của mình.

Một hạt gạo, trái cây, bó rau, gói chè, hạt cà phê hay sản phẩm làng nghề hôm nay không chỉ là hàng hóa. Đó còn là danh dự của người sản xuất, uy tín của địa phương, hình ảnh của nông nghiệp Việt Nam. Khi người nông dân hiểu rằng mình không chỉ bán sản phẩm mà còn trao gửi niềm tin, thì văn hóa đã đi vào sản xuất. Khi họ không lạm dụng hóa chất, không gian dối nguồn gốc, không chạy theo lợi ích trước mắt mà làm tổn hại sức khỏe cộng đồng, thì đó chính là văn hóa nông dân mang ý nghĩa thiết thực nhất.

Một nền nông nghiệp hiện đại cần vốn, công nghệ, thị trường, hạ tầng và thể chế. Nhưng nếu thiếu văn hóa, nền nông nghiệp ấy rất dễ rơi vào tình trạng chạy theo sản lượng mà xem nhẹ chất lượng, chạy theo lợi nhuận mà quên trách nhiệm, khai thác tài nguyên mà không nghĩ đến thế hệ sau. Văn hóa chính là hệ điều tiết để sự phát triển không đi chệch khỏi những giá trị nhân văn. Văn hóa làm cho hạt gạo không chỉ ngon hơn, mà còn đáng tin hơn; làm cho sản phẩm quê hương không chỉ bán được giá hơn, mà còn có câu chuyện sâu hơn; làm cho người nông dân không chỉ khá giả hơn, mà còn được tôn trọng hơn.

Người nông dân văn hóa cũng là người biết hợp tác. Nông nghiệp hiện đại không thể phát triển bằng tư duy manh mún, mạnh ai nấy làm. Muốn đi xa, nông dân phải liên kết trong hợp tác xã, trong chuỗi giá trị, trong cộng đồng sản xuất, trong thương hiệu vùng miền. Văn hóa hợp tác giúp nông dân vượt qua sự nhỏ lẻ, nâng cao vị thế trước thị trường, cùng chia sẻ lợi ích và cùng chịu trách nhiệm với sản phẩm chung. Đó cũng là cách để người nông dân không bị cô đơn trước những biến động của giá cả, thiên tai, dịch bệnh hay cạnh tranh toàn cầu.

Đặc biệt, người nông dân văn hóa là người biết làm mới làng quê mà không đánh mất hồn quê. Nông thôn mới không chỉ là đường rộng, nhà đẹp, điện sáng, trường học khang trang. Nông thôn mới phải là nơi tình làng nghĩa xóm được bồi đắp, lễ hội không bị thương mại hóa, môi trường sống trong lành, trẻ em có không gian vui chơi, người cao tuổi có nơi sinh hoạt, thanh niên có cơ hội khởi nghiệp ngay trên quê hương mình. Nếu làng quê giàu lên mà mất đi ký ức, mất đi nếp sống cộng đồng, mất đi sự tử tế trong ứng xử, thì sự phát triển ấy chưa thể gọi là bền vững.

Trong kỷ nguyên mới, Đại hội Hội Nông dân Việt Nam không chỉ là dịp tổng kết phong trào, đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho một nhiệm kỳ, mà còn là thời điểm để khẳng định sâu sắc hơn vai trò chủ thể của nông dân trong phát triển đất nước. Hội Nông dân không chỉ là tổ chức tập hợp, vận động, bảo vệ quyền lợi của nông dân, mà còn phải trở thành người bạn đồng hành, người dẫn dắt, người khơi dậy khát vọng vươn lên của nông dân Việt Nam. Đồng hành với nông dân hôm nay không chỉ là hỗ trợ vốn, giống, kỹ thuật hay đầu ra sản phẩm, mà còn là giúp nông dân nâng cao tri thức, kỹ năng số, năng lực pháp lý, văn hóa thị trường và khả năng hội nhập.

Chúng ta cần đưa nội dung xây dựng văn hóa nông dân vào chiều sâu của phong trào nông dân. Không chỉ vận động nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, mà còn cần vận động nông dân sản xuất sạch, kinh doanh tử tế, ứng xử văn minh, giữ gìn môi trường, bảo vệ bản sắc làng quê. Người nông dân giỏi trong thời đại mới không chỉ là người có thu nhập cao, mà còn là người biết làm giàu có trách nhiệm, biết chia sẻ với cộng đồng và đóng góp cho sự phát triển chung.

Cùng với đó, cần nâng cao tri thức, kỹ năng số và năng lực hội nhập cho nông dân. Chuyển đổi số trong nông nghiệp không chỉ là đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử hay dán mã QR. Quan trọng hơn, đó là chuyển đổi tư duy. Người nông dân phải biết đọc tín hiệu thị trường, hiểu tiêu chuẩn chất lượng, biết bảo vệ thương hiệu, biết giao tiếp với người tiêu dùng, biết dùng công nghệ để làm tăng giá trị sản phẩm. Khi một hợp tác xã có thể kể câu chuyện vùng đất, con người, quy trình canh tác và giá trị văn hóa của sản phẩm trên không gian số, thì nông nghiệp đã bước sang một trình độ phát triển mới.

Ở chiều sâu hơn, phát triển kinh tế nông thôn cần gắn chặt với văn hóa, du lịch và di sản. Mỗi làng quê Việt Nam đều có một câu chuyện riêng: Một nghề truyền thống, một món ăn, một lễ hội, một điệu hát, một dòng sông, một cánh đồng, một nếp nhà, một ký ức lịch sử. Nếu biết đánh thức, những giá trị ấy có thể trở thành nguồn lực phát triển. Nông dân không chỉ là người sản xuất nông sản, mà còn có thể là người làm du lịch cộng đồng, người kể chuyện văn hóa, người gìn giữ di sản, người sáng tạo sản phẩm trải nghiệm.

Du khách đến với nông thôn không chỉ để ăn một bữa cơm quê hay chụp một bức ảnh đẹp. Họ muốn được chạm vào đời sống thật, nghe câu chuyện thật, gặp những con người thật và cảm nhận bản sắc thật. Nếu nông dân được đào tạo, hỗ trợ, kết nối đúng cách, làng quê có thể trở thành không gian văn hóa sống động, nơi di sản không nằm im trong quá khứ mà trở thành sinh kế, niềm tự hào và động lực phát triển hôm nay.

Một yêu cầu rất quan trọng khác là xây dựng văn hóa sinh thái trong nông dân. Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, suy giảm tài nguyên nước, xâm nhập mặn, rác thải nhựa đang tác động trực tiếp đến đời sống nông thôn. Người nông dân là người cảm nhận rõ nhất sự thay đổi của thời tiết, của đất, của nước, của mùa vụ. Vì vậy, nông dân cũng phải là lực lượng đi đầu trong nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ cảnh quan và môi trường sống.

Văn hóa sinh thái không phải là điều xa xôi. Đó là không xả rác xuống kênh mương, không đốt rơm rạ bừa bãi, không lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, biết giữ nguồn nước, giữ đất, giữ cây xanh, giữ không gian làng quê sạch đẹp. Khi mỗi người nông dân coi môi trường là tài sản chung của cộng đồng và là phần di sản để lại cho con cháu, thì phát triển xanh mới thật sự có nền tảng bền vững.

Từ Đại hội Hội Nông dân Việt Nam hôm nay, điều chúng ta kỳ vọng không chỉ là những chỉ tiêu mới, chương trình mới hay phong trào mới, mà là một chuyển động mới trong nhận thức: Phát triển nông dân phải bắt đầu từ con người; phát triển nông thôn phải đi cùng phát triển văn hóa; phát triển nông nghiệp phải gắn với trách nhiệm sinh thái và phẩm giá của người lao động.

Kỷ nguyên mới của dân tộc không chỉ được viết ở những đô thị thông minh, những khu công nghiệp hiện đại, những trung tâm đổi mới sáng tạo. Kỷ nguyên ấy còn phải được viết trên những cánh đồng xanh hơn, trong những làng quê văn minh hơn, bằng bàn tay, khối óc và tâm hồn của những người nông dân tự tin hơn. Khi nông dân có tri thức, có văn hóa, có trách nhiệm và có khát vọng, nông thôn Việt Nam sẽ không chỉ là hậu phương của phát triển, mà trở thành một nền tảng bền vững, một không gian sáng tạo và một sức mạnh mềm của quốc gia.

Xây dựng văn hóa nông dân vì thế không phải là việc phụ thêm bên cạnh việc phát triển kinh tế nông nghiệp. Đó là một nhiệm vụ trung tâm để nông dân thực sự trở thành chủ thể của phát triển, để nông thôn trở thành nơi đáng sống, để nông nghiệp Việt Nam đi xa hơn bằng chất lượng, niềm tin và bản sắc. Khi văn hóa thấm vào từng thửa ruộng, từng hợp tác xã, từng sản phẩm, từng nếp nhà, từng làng quê, chúng ta sẽ có một nền nông nghiệp không chỉ giàu về giá trị kinh tế, mà còn giàu về giá trị nhân văn; một nông thôn không chỉ đổi mới diện mạo, mà còn bền sâu trong tâm hồn; và một lớp nông dân Việt Nam đủ tự tin bước vào kỷ nguyên mới cùng dân tộc.