Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguồn lực đặc biệt quyết định sức mạnh và triển vọng phát triển của mỗi đất nước. Kế thừa truyền thống trọng dụng nhân tài của dân tộc, Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát hiện, đào tạo và phát huy nguồn lực trí tuệ. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, đẩy mạnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, việc thu hút, trọng dụng nhân tài vẫn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết để người tài phát huy năng lực, cống hiến hiệu quả cho đất nước.

Nhân tài - nguyên khí quốc gia, nguồn lực đặc biệt của sự phát triển

Cách đây hơn 5 thế kỷ, Tiến sĩ Thân Nhân Trung (1418-1499), danh sĩ, đại thần dưới triều vua Lê Thánh Tông, đã viết trong bài văn bia đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1442), dựng năm 1484 tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. Nhận thức ấy bắt nguồn từ thực tiễn trị nước của cha ông, khẳng định vị trí của người có tài năng, đức độ đối với sự hưng thịnh của quốc gia. Đào tạo, tuyển chọn và trọng dụng hiền tài từ lâu đã được coi là công việc hệ trọng của đất nước.

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước đã chứng minh vai trò của những người tài năng trong những thời khắc quyết định vận mệnh dân tộc. Ngô Quyền với Chiến thắng Bạch Đằng năm 938, Lý Thường Kiệt trong cuộc kháng chiến chống quân Tống, Trần Hưng Đạo cùng quân dân nhà Trần ba lần đánh bại quân Nguyên-Mông, Nguyễn Trãi với tài năng chính trị, quân sự, ngoại giao trong kháng chiến chống quân Minh, Quang Trung-Nguyễn Huệ với chiến thắng trước quân Thanh năm 1789… đều gắn tài năng kiệt xuất với sức mạnh toàn dân tộc. Những chiến công ấy không tách rời ý chí độc lập, tinh thần đoàn kết và khả năng tổ chức lực lượng của cả dân tộc.

Kế thừa truyền thống quý trọng hiền tài của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm đặc biệt đến việc phát hiện, đào tạo và sử dụng những người có đức, có tài. Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trong hoàn cảnh chính quyền cách mạng còn non trẻ, đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn, Người đã chủ động tìm kiếm, tập hợp những nhân sĩ, trí thức có tài năng, đức độ để tham gia xây dựng chính quyền và kiến thiết quốc gia. Với tinh thần đại đoàn kết dân tộc, Người tin tưởng sử dụng những trí thức được đào tạo ở trong nước, nước ngoài, những người có quá trình xuất thân và hoạt động khác nhau nhưng có lòng yêu nước, có năng lực và mong muốn phụng sự Tổ quốc.

Trong những năm đầu của chính quyền cách mạng, nhiều nhân sĩ, trí thức như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu… đã được giao những trọng trách quan trọng. Giáo sư Trần Đại Nghĩa, một trí thức được đào tạo và làm việc tại Pháp, đã trở về nước năm 1946, tham gia kháng chiến và có những đóng góp lớn trong xây dựng ngành quân giới Việt Nam. Giáo sư Tạ Quang Bửu có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực khoa học, giáo dục và quốc phòng. Trong điều kiện đất nước còn nghèo, cơ sở vật chất vô cùng thiếu thốn, những trí thức ấy vẫn có thể phát huy tài năng, tạo ra những thành tựu có giá trị trực tiếp đối với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Niềm tin của người lãnh đạo, sự phù hợp giữa năng lực và nhiệm vụ, trách nhiệm trước vận mệnh đất nước đã tạo nên động lực lớn lao để những người có tài năng đem hết trí tuệ, tâm huyết phụng sự dân tộc.

Đối với Việt Nam, phát triển nguồn lực nhân tài là yêu cầu cấp thiết khi đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới mô hình tăng trưởng và phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Lợi thế về lao động dồi dào, chi phí thấp và tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài đã đóng góp vào tăng trưởng, nhưng không thể là cơ sở chủ yếu để nâng cao năng suất, giá trị gia tăng và năng lực tự chủ trong dài hạn. Những ngành công nghiệp chiến lược và nền quản trị hiện đại đòi hỏi đội ngũ nhân tài đủ mạnh.

 Quang cảnh Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: ANH SƠN

Thu hút, trọng dụng nhân tài - chủ trương nhất quán và những đòi hỏi từ thực tiễn

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm đến việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng những người có đức, có tài. Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, những quan điểm về phát triển nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ trí thức và thu hút, trọng dụng nhân tài ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, gắn với yêu cầu phát triển của từng giai đoạn. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 6-8-2008 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đặt ra những nhiệm vụ quan trọng trong đào tạo, sử dụng và phát huy đội ngũ trí thức. Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24-11-2023 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tiếp tục phát triển những quan điểm đó, xác định những yêu cầu mới trong xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, trình độ khoa học, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng lên. Đội ngũ trí thức, nhà khoa học, chuyên gia, doanh nhân ngày càng lớn mạnh, có những đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao tiềm lực quốc phòng, an ninh và vị thế quốc tế của đất nước. Nhiều nhà khoa học Việt Nam đã tham gia những chương trình nghiên cứu quốc tế, công bố công trình trên các tạp chí khoa học có uy tín, đóng góp vào sự phát triển tri thức và công nghệ. Các doanh nghiệp trong nước từng bước tham gia sâu hơn vào những lĩnh vực công nghệ hiện đại, hình thành nhu cầu ngày càng lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng bộc lộ những hạn chế chưa được giải quyết căn bản. Nghị quyết số 45-NQ/TW năm 2023 đã chỉ ra những bất cập trong xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ trí thức, trong đó có sự thiếu hụt chuyên gia đầu ngành ở một số lĩnh vực quan trọng, những hạn chế của chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài và môi trường làm việc chưa thật sự thuận lợi cho hoạt động sáng tạo. Thực trạng đó ảnh hưởng đến khả năng phát huy nguồn lực trí tuệ, nhất là trong những ngành, lĩnh vực có yêu cầu cao về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Những hạn chế trong chính sách nhân tài cần được xem xét từ cả quá trình đào tạo, phát hiện, lựa chọn, sử dụng và phát triển. Việc mở rộng quy mô đào tạo có thể làm gia tăng số lượng người có trình độ chuyên môn, nhưng sự hình thành những chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học xuất sắc đòi hỏi quá trình bồi dưỡng lâu dài, môi trường học thuật có chất lượng và điều kiện nghiên cứu phù hợp. Trong khi đó, hoạt động nghiên cứu khoa học ở một số cơ sở còn gặp khó khăn về nguồn lực, cơ chế quản lý và khả năng kết nối với nhu cầu thực tiễn. Việc đánh giá năng lực đôi khi vẫn chịu ảnh hưởng của những tiêu chí mang tính hình thức, chưa coi trọng tương xứng chất lượng và giá trị thực tế của kết quả nghiên cứu, sáng tạo.

Những vướng mắc của chính sách nhân tài không chỉ nằm ở chế độ đãi ngộ. Cơ chế sử dụng thiếu linh hoạt, quyền hạn chưa tương xứng với trách nhiệm và điều kiện nghiên cứu chưa bảo đảm đều có thể hạn chế sáng tạo. Quản lý khoa học bằng những thủ tục cứng nhắc còn gây lãng phí thời gian, nguồn lực và làm giảm khả năng tổ chức nghiên cứu. Vì vậy, cần đổi mới đồng bộ thể chế quản lý, cơ chế giao nhiệm vụ và đánh giá kết quả.

Một chính sách nhân tài thực chất phải quan tâm đồng thời đến những người được thu hút từ bên ngoài và những người đang cống hiến trong nước. Trong nhiều cơ quan, tổ chức, nguồn nhân tài có thể đã hiện diện nhưng chưa được phát hiện đầy đủ hoặc chưa được sử dụng đúng mức. Nếu chỉ tập trung vào những chính sách ưu đãi dành cho người mới được tuyển dụng, trong khi chưa đánh giá, ghi nhận và đãi ngộ xứng đáng những người đang làm việc, dễ dẫn đến sự thiếu công bằng, ảnh hưởng đến động lực phấn đấu và môi trường phát triển chung. Vì vậy, chính sách thu hút nhân tài cần được đặt trong tổng thể chính sách phát triển và sử dụng nguồn nhân lực, bảo đảm sự công bằng và coi trọng những đóng góp thực tế.

Những bất cập trong đánh giá, lựa chọn, sử dụng và đãi ngộ cho thấy chính sách nhân tài phải được xem xét từ hiệu quả cống hiến, thay vì chỉ căn cứ vào số người được thu hút. Giải quyết được vấn đề trọng dụng mới tạo cơ sở để tài năng thực sự trở thành nguồn lực phát triển đất nước.

(còn nữa)