Bao dung với những người con lạc lối trở về
Chúng tôi về làng Klăh, xã Thăng Hưng (Chư Prông, Gia Lai), đến thăm gia đình già Siu Rik, 62 tuổi, từng tham gia hoạt động FULRO, “Tin lành Đề ga” gây ảnh hưởng không ít đến tình hình an ninh chính trị địa phương. Gần 20 năm trôi qua, nhưng khi được hỏi về quá khứ, trên gương mặt của người đàn ông hiền hậu vẫn hiện nét ngượng ngùng, ân hận về những lầm lỡ. Ông Siu Rik kể: “Năm 2001, tôi nghe lời các đối tượng tham gia hoạt động FULRO, rồi lôi kéo bà con trong làng tham gia biểu tình. Sau đó, tôi bị bắt và bị tuyên phạt 3 năm tù. Năm 2003, chấp hành xong án phạt tù, tôi trở về địa phương trong tâm trạng tự ti, mặc cảm. Nhưng được cán bộ quân đội và Công an huyện Chư Prông, cùng bà con dân làng động viên, chia sẻ thường xuyên, tôi đã sớm hòa nhập cộng đồng”.
 |
|
Đại diện cấp ủy, chính quyền và LLVT huyện Chư Pưh (Gia Lai) gặp gỡ, động viên anh Siu Nguyên (thứ hai, từ trái sang) - một hộ dân từng vượt biên, nay đã trở về với cộng đồng. |
Không phụ niềm tin tưởng của các cấp chính quyền và tình cảm của cán bộ, chiến sĩ, đồng bào địa phương, Siu Rik không ngần ngại mang câu chuyện của mình đi tuyên truyền, vận động bà con khắp làng Klăh nói riêng, xã Thăng Hưng và huyện Chư Prông nói chung. Ông không chỉ vạch trần thủ đoạn thâm độc của FULRO mà còn vận động bà con tích cực lao động sản xuất, không trông chờ ỷ lại vào cấp ủy, chính quyền, phải bắt đầu từ việc thay đổi “nếp nghĩ, cách làm” của từng hộ dân và của mỗi người dân.
Có hoàn cảnh tương tự như Siu Rik, ông A Hyưt, 52 tuổi ở thôn Đak Ơ Nglăng, xã Đăk Tờ Re (Kon Rẫy, Kon Tum), từng là tín đồ trung thành của “tà đạo Hà Mòn”, gây ra biết bao bất ổn, xáo trộn nơi thôn, làng yên bình. Sau khi hết thời hạn phạt tù, về lại địa phương, ông được các cấp chính quyền và nhân dân giúp đỡ rất nhiều, được tặng bò giống và tạo điều kiện cho vay vốn ưu đãi để phát triển kinh tế.
Với quan điểm lấy giáo dục, cảm hóa là chính để giữ dân, kéo đồng bào về lại với buôn làng, ban thường vụ huyện ủy các huyện: Đắc Hà, Kon Rẫy (Kon Tum) đã tập trung chỉ đạo các cơ quan, ban ngành tích cực đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, thuyết phục đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) trên địa bàn huyện không tin, không theo tà đạo Hà Mòn. Đồng thời, các địa phương trên đặc biệt quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện phát triển cho các hộ gia đình một thời lạc lối. Ví như những năm gần đây, Huyện ủy Kon Rẫy đã hỗ trợ xây mới 18 nhà tình nghĩa tặng các gia đình trước đây tin theo tà đạo Hà Mòn thuộc hộ nghèo trên địa bàn; cấp phát 85 con bò giống; 100% các hộ được cấp thẻ bảo hiểm y tế... Cùng với đó, các chính sách an sinh xã hội được triển khai kịp thời, phù hợp đã giúp các hộ gia đình từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống, tự tin vào hiện tại, lạc quan về tương lai.
Đồng chí Nguyễn Phúc Phận, Phó trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum khẳng định: “Sau thời gian được cảm hóa, giáo dục, các hộ trước đây tin theo tà đạo đều đã nhận thức được hành vi sai trái, đồng thời cảm nhận đầy đủ hơn về sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương. Đến nay, họ đã xóa bỏ được sự tự ti, mặc cảm, tích cực tham gia các hoạt động chung của thôn, làng và đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng quê hương ngày càng phát triển, giàu đẹp”.
Ở Kon Rẫy và Đắc Hà, chúng tôi được đi trên những con đường bê tông kiên cố chạy quanh các thôn, buôn; tới thăm từng mô hình nông nghiệp công nghệ cao đang được đồng bào triển khai từ mấy năm nay..., tất cả đã làm sáng rõ hơn những đánh giá của đồng chí Nguyễn Phúc Phận. Dù còn nhiều khó khăn trước mắt, nhưng chỉ bấy nhiêu cũng đủ thấy, ở nơi đất cằn sỏi đá, những mầm xanh tươi đang hé nhú và hứa hẹn sẽ vươn mình khởi sắc.
Siết chặt đoàn kết, đồng lòng đổi mới
Những ngày công tác tại Gia Lai, chúng tôi được tiếp cận một tài liệu tuyên truyền khá đặc biệt, tài liệu được dịch và in bằng chữ của đồng bào Ba Na, Gia Rai. Đó là cuốn sổ tay tuyên truyền thực hiện Cuộc vận động thay đổi nếp nghĩ, cách làm trong đồng bào DTTS, do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Gia Lai biên soạn. Đặc biệt ở chỗ, ngay trang đầu tiên của cuốn sổ có trích đăng một đoạn trong Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Đại hội các DTTS miền Nam (ngày 19-4-1946) được dịch ra 3 thứ tiếng: Việt, Ba Na và Gia Rai. Lời Bác căn dặn thật thấm thía: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”.
“Đối với đội ngũ cán bộ cơ sở, cuốn sổ tay có giá trị rất lớn. Nó như cẩm nang, luôn nhắc nhớ mỗi người phải nêu cao tinh thần trách nhiệm thực hành đoàn kết, yêu thương lẫn nhau trong cộng đồng các dân tộc anh em, đúng như lời Bác Hồ đã dạy”-đồng chí Thạch Văn Lâm, Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Chư Pưh (Gia Lai) tâm huyết đánh giá.
Cũng trong chuyến dọc dài Tây Nguyên lần này, chúng tôi còn may mắn được nghe kể về câu chuyện những người Kinh thủa ban đầu khi lên Tây Nguyên khai đất, lập nghiệp. Nhiều bậc cao niên trong cộng đồng ở Gia Lai khẳng định, thị xã An Khê chính là vùng đất đầu tiên có sự hiện diện của người Kinh trên đất Gia Lai vào khoảng thế kỷ 17. Cũng theo các già làng, trưởng thôn, “An” (trong địa danh An Khê) đồng nghĩa với “yên”, thể hiện ước muốn về cuộc sống bình yên, an lành, đoàn kết trên vùng đất mới.
 |
|
Lãnh đạo một số địa phương trong cả nước cùng bà con các dân tộc bên Tượng đài Bác Hồ ở Quảng trường Đại đoàn kết (Plâycu, Gia Lai). |
Những gì được nghe, được kể càng thêm củng cố vững chắc khi chúng tôi được “thực mục sở thị” nhiều mô hình liên kết, kết nghĩa giữa đồng bào các dân tộc được triển khai hiệu quả từ nhiều năm nay trên địa bàn Tây Nguyên, đặc biệt từ sau năm 2001 và 2004. Trong đó, mô hình gắn kết hộ giữa cán bộ với đồng bào DTTS, giữa người Kinh với người DTTS, giữa quân nhân với người dân; kết nghĩa giữa các cơ quan, ban, ngành, LLVT, tổ chức chính trị-xã hội với các buôn, làng DTTS... khẳng định tính hiệu quả và ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Các mô hình này không chỉ giúp những miền quê nghèo khoác lên mình diện mạo mới; mà còn là chất keo gắn chặt tình đồng chí, đồng bào; khẳng định sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ghi nhận ý nghĩa của các mô hình này, đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương từng cho rằng, “gắn kết hộ” là sự vận dụng sáng tạo, làm phong phú thêm những hình thức dân vận mới của Đảng. Thông qua hoạt động “gắn kết hộ” đã góp phần xây dựng trận địa tư tưởng của Đảng trong từng gia đình, từng thôn, làng; đồng thời góp phần quan trọng vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Bằng những việc làm cụ thể hằng ngày và qua tiếp xúc, giao tiếp thường xuyên giữa các cộng đồng dân tộc, giữa người DTTS, người Kinh càng giúp cho tình cảm được thêm nảy nở, củng cố bền chặt, son sắt.
Không chỉ kết nối trên lĩnh vực kinh tế, các địa phương đã và đang triển khai hàng loạt các chương trình, đề án, hoạt động ý nghĩa, gắn kết đồng bào các dân tộc qua các lễ hội, ngày văn hóa, sinh hoạt cộng đồng, hoạt động thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ quần chúng... theo không gian khu vực cộng đồng và địa giới hành chính. Ở đó, các hoạt động không có sự phân biệt anh là dân tộc này, tôi là dân tộc kia, mà chúng ta đều là "con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt" và đều chung một quê hương. Ở đó cũng không có sự phân biệt lương-giáo, không so đo giàu-nghèo, hay phân tách công dân tốt với những người từng một thời lầm đường, lạc lối.
Tháo gỡ vướng mắc, tạo bứt phá đi lên
Suốt hơn hai tuần dày công khảo sát ở nhiều thôn, xã của Tây Nguyên đã giúp chúng tôi thêm thấm thía nỗi trăn trở của đồng chí Nguyễn Cảnh, Phó trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đắc Lắc, trước tình hình hoạt động chống phá ngày càng tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch; nhất là việc chúng tìm mọi cách khoét sâu vào vấn đề dân tộc, tôn giáo và không ngừng từ bỏ ý định lôi kéo, mua chuộc đồng bào DTTS. Đau đáu trước thực tế đó, anh Cảnh nhiều lần chia sẻ với chúng tôi: “Để đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên cùng chung sống đoàn kết, giàu có, phát triển, đấu tranh hiệu quả với các thế lực thù địch, thì trước hết phải làm sao để người dân nói chung, đồng bào DTTS nói riêng được no cái bụng, có thêm cái chữ vào đầu”.
 |
|
Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Kinh tế - Quốc phòng 710 (Binh đoàn 15) và nhân dân địa phương tham gia lễ hội gói bánh chưng. Ảnh: TRUNG HIẾU |
Phải ghi nhận một thực tế, đời sống của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên những năm gần đây được nâng lên rõ rệt với nhiều chính sách, chương trình, đề án quan trọng hướng về Tây Nguyên. Tuy nhiên, vùng đồng bào DTTS hiện vẫn là “lõi nghèo” trên miền đất đỏ bazan này. Đơn cử như ở Kon Tum, tính đến cuối năm 2019, toàn tỉnh vẫn còn 17.649 hộ nghèo DTTS, chiếm 24,93% trên tổng số hộ người DTTS toàn tỉnh... Ở Gia Lai, tính đến tháng 7-2020, tổng số hộ nghèo trên địa bàn tỉnh là 25.807 hộ, trong đó số hộ nghèo DTTS chiếm tỷ lệ 86,71%. Do đó, việc xóa đói, giảm nghèo vẫn luôn là bài toán hóc búa, chưa thể có lời giải trong một sớm một chiều và cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự hỗ trợ tích cực của Trung ương và đồng bào cả nước.
Tất nhiên, Tây Nguyên chưa bao giờ đơn độc. Đặc biệt, kể từ sau vụ việc năm 2001 đến nay, Trung ương đã lãnh đạo, chỉ đạo các địa phương triển khai đồng bộ, toàn diện và hiệu quả nhiều nghị quyết, chương trình, đề án, chính sách ưu đãi, ưu tiên đối với đồng bào DTTS ở Tây Nguyên. Thế nhưng, theo đồng chí Trần Văn Hạnh, Phó trưởng ban Dân tộc tỉnh Gia Lai, trong vài năm trở lại đây, việc ưu tiên nguồn lực đầu tư cho vùng đồng bào DTTS vẫn có mặt hạn chế và chưa đáp ứng được nhu cầu của cơ sở. Có những đề án sau 5-10 năm thực hiện, tổng số kinh phí bố trí chỉ chưa được 30%; kinh phí bố trí cho các dự án không được bảo đảm thường xuyên. Hơn nữa, vì có nhiều chính sách nên sinh ra chồng chéo, chồng lấn trong triển khai thực hiện, còn nguồn lực và ngân sách thì bị phân tán, gây khó và lúng túng cho cơ sở khi quán triệt, triển khai...
Liên quan đến công tác cán bộ DTTS, đông đảo cán bộ, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đều có chung đề xuất, nên tổ chức lại một số trường đào tạo đặc thù, tăng cường hơn nữa việc cử tuyển, lựa chọn con em đồng bào DTTS để đào tạo; có chính sách tuyển dụng, sử dụng cán bộ DTTS một cách hợp lý, sát hơn với thực tiễn cơ sở. Thẳng thắn trao đổi về vấn đề này, Đại tá Hồ Anh Tuấn, Chính ủy Bộ CHQS tỉnh Kon Tum cho rằng, việc giải thể các trường thiếu sinh quân, dẫn đến mất đi nguồn đào tạo LLVT là người đồng bào tại chỗ. Do đó, về lâu dài sẽ rất khó bảo đảm tỷ lệ 55% cán bộ người DTTS trong tổng quân số theo quy định đối với các địa phương có nhiều DTTS...
Để lãnh đạo, quản lý địa bàn đa dân tộc, việc phát huy vai trò cán bộ DTTS là giải pháp hết sức quan trọng, nhưng hiện nay việc xây dựng đội ngũ cán bộ này gặp vô vàn khó khăn. Trước hết do trình độ không đáp ứng các tiêu chí, tiêu chuẩn về cán bộ, công chức nên khó đưa vào bộ máy và hệ thống chính trị. Hơn thế, trong nhiều năm qua, tỷ lệ học sinh DTTS thi đỗ đại học không cao, không có nguồn kế cận, kế tiếp cán bộ tại chỗ nên địa phương buộc phải tuyển chọn các nguồn từ nơi khác.
Nguồn tuyển cán bộ DTTS vốn đã thiếu và khó, trong khi cả hệ thống chính trị đang quyết liệt thực hiện chủ trương tinh giản biên chế ở tất cả các cấp. Theo đó, khi thực hiện nghiêm túc, triệt để các quy định của Chính phủ và Bộ Nội vụ thì chắc chắn đối tượng tinh giản, đại đa số sẽ rơi vào nhóm cán bộ DTTS. Mặt khác, trong công tác quy hoạch cán bộ, đối tượng cán bộ DTTS cũng đang gặp phải những “chướng ngại vật” không hề nhỏ, đúng như phân tích của đồng chí Trần Tuấn Anh, Phó trưởng ban Thường thực Ban Tổ chức Tỉnh ủy Đắc Lắc: “Với tiêu chí 2 năm liền cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ thì không được đưa vào quy hoạch, như vậy cán bộ người DTTS dễ rơi vào trường hợp này. Do đó, việc quy hoạch cán bộ DTTS bảo đảm trên 35%, cấp ủy viên trên 10% là người DTTS tuy hiện nay vẫn bảo đảm được, nhưng về lâu dài sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tính khả thi không cao”.
THAY LỜI KẾT
Tây Nguyên-vùng cao nguyên đất đỏ bazan trù phú và màu mỡ, đậm đặc văn hóa sử thi, rạng chói những trang sử hào hùng cách mạng. Đồng bào các dân tộc trên vùng đất Tây Nguyên kiêu hãnh, hiên ngang như những bóng cơ nia, xà nu vươn thẳng vun vút giữa nắng gió đại ngàn... Với tình cảm và khoảng kiếm tìm giới hạn, xin ghi lại những chất liệu đời thường, dung dị để ngợi ca một vùng đất trung dũng, kiên cường, luôn một lòng theo Đảng. Và tin chắc, với chiều dài lịch sử đáng tự hào, với diện mạo mới trong nhịp điệu phát triển hôm nay, chắc chắn các vụ việc diễn ra cách đây hai thập kỷ trước chỉ là những nốt trầm không tái diễn trong bản trường ca bất tận, hùng tráng!
Nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân