Nền tảng cho hội nhập và phát triển bền vững

Sức mạnh nội sinh là "tấm khiên" vững chắc giúp Việt Nam bảo vệ độc lập, chủ quyền và giữ vững ổn định chính trị - xã hội trước những biến động phức tạp của tình hình quốc tế. Trong bối cảnh thế giới đầy thách thức như cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị và khủng hoảng toàn cầu, dựa vào nội lực trở thành yếu tố sống còn.

Tinh thần “tự lực cánh sinh, tự cường dân tộc”, được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, không chỉ giúp dân tộc Việt Nam vượt qua những thời khắc khó khăn nhất, mà còn tạo nên nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững. Khả năng ứng phó linh hoạt với các cú sốc kinh tế toàn cầu - từ khủng hoảng tài chính châu Á (1997), khủng hoảng kinh tế thế giới (2008-2009) đến đại dịch Covid-19 là minh chứng rõ nét cho sức mạnh đó.

Khi nội lực đủ mạnh, Việt Nam có thể hội nhập toàn cầu một cách chủ động, hiệu quả và không lệ thuộc. Thay vì chỉ gia công, lắp ráp, Việt Nam đang từng bước tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Sức mạnh nội sinh giúp đất nước xác định rõ lợi ích quốc gia và xây dựng chiến lược hội nhập phù hợp. Việt Nam đã khẳng định vai trò tích cực của mình trong các tổ chức và diễn đàn quốc tế như ASEAN, APEC, CPTPP, EVFTA... Đặc biệt, vai trò Chủ tịch ASEAN 2020 và thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (2020-2021) đã thể hiện rõ tinh thần chủ động, trách nhiệm và bản lĩnh trong giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu.

Sức mạnh nội sinh đảm bảo mô hình phát triển của Việt Nam không chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế đơn thuần, mà còn hướng tới sự phát triển toàn diện, bền vững. Dựa trên con người làm trung tâm, văn hóa làm nền tảng, thể chế làm đảm bảo và đổi mới sáng tạo làm động lực, Việt Nam đang xây dựng một mô hình tăng trưởng gắn kết chặt chẽ với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Trong giai đoạn 2011-2020, Việt Nam đã đạt được mục tiêu kép: Tăng trưởng kinh tế bình quân 6,2%/năm, đồng thời giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 9,88% xuống còn 2,75% [1]. Thành tựu này cho thấy sức mạnh nội sinh không chỉ tạo ra của cải, mà còn đảm bảo sự phân phối hợp lý, không để ai bị bỏ lại phía sau. Đặc biệt, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và các thách thức môi trường ngày càng gay gắt, Việt Nam đã cam kết đạt mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 [2]. Điều này thể hiện quyết tâm phát triển bền vững, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái.

Nội lực văn hóa và tinh thần dân tộc, đặc biệt là sức sáng tạo của thế hệ trẻ, đang trở thành động lực mạnh mẽ lan tỏa khát vọng phát triển. Thế hệ trẻ Việt Nam hiện tại, với trình độ giáo dục cao, tư duy cởi mở và khát vọng cống hiến, đang trở thành những "đại sứ" của tinh thần đổi mới sáng tạo. Sự phát triển mạnh mẽ của hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, với sự xuất hiện của nhiều startup "kỳ lân" như VinFast, VNG, FPT, đã chứng minh tiềm năng to lớn của sức sáng tạo Việt Nam. Đây không chỉ là thành tựu kinh tế mà còn là biểu hiện của tinh thần tự tin, tự hào dân tộc được khơi dậy.

Sức mạnh nội sinh là nền tảng hiện thực hóa khát vọng Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Ảnh minh họa: qdnd.vn

Nền tảng sức mạnh nội sinh của dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới

Từ ngàn đời nay, dân tộc Việt Nam luôn nuôi dưỡng khát vọng sống và ý chí vươn lên vì sự phát triển. Trong quá khứ, đó là khát vọng độc lập, thống nhất; ngày nay, là mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao, nhân dân hạnh phúc - tầm nhìn được xác định tại Đại hội XIII của Đảng. Đại hội cũng nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết và khơi dậy khát vọng phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sức mạnh nội sinh - tài sản vô giá của dân tộc được hình thành từ năm yếu tố nền tảng, là cơ sở cho sự phát triển bền vững của Việt Nam.

Trước hết, nền tảng tinh thần từ truyền thống lịch sử và văn hóa đóng vai trò cốt lõi. Trải qua hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã hun đúc nên một nền văn hóa đậm đà bản sắc với tinh thần “tự lực cánh sinh, tự cường dân tộc”. Tinh thần ấy được tôi luyện qua bao thăng trầm lịch sử, trở thành nguồn sức mạnh tinh thần bất diệt. Không chỉ là ý chí vượt khó, đó còn là sự kiên cường, bất khuất trước mọi thử thách - nền tảng vững chắc để khơi dậy và phát huy tiềm năng nội sinh của quốc gia.

Tài sản con người Việt - nguồn vốn quan trọng nhất của quốc gia. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định con người là trung tâm trong chiến lược phát triển quốc gia. Người Việt Nam mang trong mình những phẩm chất đáng quý như sự cần cù, chịu khó, lòng yêu nước nồng nàn và khả năng sáng tạo. Đặc biệt, thế hệ trẻ ngày nay với trình độ học vấn cao và tư duy đổi mới đang trở thành lực lượng chủ lực, không chỉ là người thụ hưởng mà còn là chủ thể tích cực trong tiến trình hiện đại hóa đất nước.

Cùng với đó, ổn định chính trị là nền tảng cho phát triển bền vững. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tạo nên môi trường ổn định và định hướng chiến lược đúng đắn, giúp đất nước vượt qua nhiều thách thức. Công cuộc Đổi mới từ năm 1986 là minh chứng rõ nét cho sự linh hoạt và khả năng thích ứng của thể chế, góp phần giải phóng và phát huy hiệu quả các nguồn lực nội sinh.

Thành tựu phát triển sau gần bốn thập kỷ Đổi mới là minh chứng thuyết phục: GDP vượt 430 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người trên 4.300USD và tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh. Những con số này cho thấy sức mạnh nội sinh của Việt Nam đang được phát huy hiệu quả, góp phần đưa đất nước từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu trở thành quốc gia đang phát triển có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới.

Động lực tương lai sẽ là khoa học công nghệ. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành những yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Đại hội XIII của Đảng xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và ứng dụng khoa học công nghệ là ưu tiên hàng đầu - chìa khóa để Việt Nam không chỉ bắt kịp mà còn có khả năng dẫn đầu trong một số lĩnh vực công nghệ.

Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị đã đánh dấu bước ngoặt trong chính sách phát triển, khi lần đầu tiên đặt khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở vị trí "đột phá quan trọng hàng đầu". Nghị quyết đặt mục tiêu Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về năng lực cạnh tranh số và phát triển trí tuệ nhân tạo; đến năm 2045, kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Nghị quyết đề ra việc tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) lên 2% GDP vào năm 2030, trong đó khu vực xã hội chiếm trên 60% tổng đầu tư.

Tuy nhiên, việc phát huy sức mạnh nội sinh cũng đối mặt với không ít thách thức. Khoảng cách phát triển giữa Việt Nam và các nước tiên tiến vẫn còn lớn. Với thu nhập bình quân đầu người khoảng 4.300 USD, Việt Nam vẫn thuộc nhóm thu nhập trung bình và đối mặt với nguy cơ rơi vào "bẫy thu nhập trung bình" - khi tăng trưởng chậm lại do thiếu đột phá về năng suất và cạnh tranh. Về nguồn nhân lực, mặc dù có quy mô lớn nhưng chất lượng chưa đồng đều, đặc biệt thiếu nghiêm trọng nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực then chốt như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, và quản trị hiện đại. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt khoảng 25%, trong khi các nước phát triển thường đạt trên 70% [3].  Về công nghệ, Việt Nam chưa đủ năng lực tự chủ cao, phần lớn vẫn phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu 2024 xếp Việt Nam ở vị trí 44/132 quốc gia, mặc dù đã cải thiện nhưng vẫn cần nỗ lực lớn hơn [4]. Các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh mạng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng nền tảng phát triển. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, với thiệt hại hàng năm ước tính khoảng 1-2% GDP [5].

Những định hướng chiến lược cho xã hội hóa và huy động nguồn lực phát triển

Để hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thịnh vượng, việc phát huy sức mạnh nội sinh là yếu tố quan trọng. Trước hết, cần đổi mới toàn diện thể chế. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ tạo môi trường thuận lợi cho phát triển mà còn khai thác tối đa nguồn lực nội tại như Đại hội XIII đã khẳng định “đổi mới toàn diện, đồng bộ thể chế” là nhiệm vụ trọng tâm [6]. Điều này đòi hỏi cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện khung pháp lý và xây dựng chính phủ số hiệu quả, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia.

Thứ hai, đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục và khoa học công nghệ là giải pháp then chốt để nâng cao năng lực nội sinh. Nghị quyết 57-NQ/TW đặt mục tiêu đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt 2% GDP vào năm 2030, trong đó, cần tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khuyến khích tinh thần khởi nghiệp sáng tạo và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện [7]. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế “chấp nhận rủi ro” trong nghiên cứu khoa học, tạo môi trường thuận lợi để đổi mới sáng tạo nở rộ và ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn.

Thứ ba, xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo nền tảng tinh thần vững chắc cho sự phát triển bền vững. Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển, góp phần củng cố sức mạnh nội sinh của quốc gia. Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, sẽ tạo môi trường xã hội năng động, sáng tạo và đoàn kết.

Thứ tư, cần khơi dậy khát vọng trong toàn dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Tạo điều kiện để người trẻ phát huy tối đa tiềm năng, tham gia khởi nghiệp sáng tạo và đóng góp vào sự phát triển đất nước. Các chính sách hỗ trợ startup, tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường là công cụ quan trọng để biến ý tưởng sáng tạo thành giá trị thực tiễn.

Thứ năm, việc kết hợp hài hòa giữa sức mạnh nội sinh và ngoại sinh là điều cần thiết. Việt Nam cần tận dụng hiệu quả nguồn lực quốc tế, đồng thời chuyển hóa thành năng lực nội tại bền vững. Chiến lược hội nhập thông minh, chọn lọc và thích nghi với những yếu tố bên ngoài có lợi, sẽ giúp đất nước vừa phát triển vừa giữ được bản sắc riêng có của mình và khả năng tự chủ, độc lập, tự cường.

Trong giai đoạn phát triển mới với khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, nhiều nghị quyết quan trọng của Đảng đã được ban hành, định hướng chiến lược cho xã hội hoá và huy động mọi nguồn lực phát triển:

Nghị quyết 57-NQ/TW (2024) về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhấn mạnh: Khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt cho phát triển nhanh và bền vững. 

Nghị quyết 59-NQ/TW (2024) về hội nhập quốc tế trong tình hình mới khẳng định: hội nhập không chỉ giới hạn ở kinh tế, mà còn mở rộng ra giáo dục, khoa học – công nghệ, y tế, văn hóa. Đây là bước đi thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc gắn kết xã hội hoá với mở rộng hợp tác công – tư – quốc tế, thu hút nguồn lực nước ngoài, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến, đồng thời kiên định bảo vệ bản sắc văn hoá và chủ quyền quốc gia. 

Nghị quyết 66-NQ/TW (2024) về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật minh bạch, đồng bộ, khả thi. Đây là nền tảng thể chế quan trọng để xã hội hoá phát triển đúng hướng, ngăn chặn lợi ích nhóm, tạo sự công bằng cho mọi chủ thể tham gia và nâng cao trách nhiệm giải trình. 

Nghị quyết 68-NQ/TW (2024) về phát triển kinh tế tư nhân tiếp tục khẳng định: kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là bước mở rộng mạnh mẽ không gian để doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực vốn trước đây chủ yếu do khu vực công đảm nhiệm như giáo dục, y tế, văn hoá. 

Nghị quyết 71-NQ/TW (2025) về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo một lần nữa khẳng định: giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học – công nghệ, là quốc sách hàng đầu. Đây là bước phát triển trực tiếp từ Nghị quyết 29-NQ/TW (2013), nhưng được nâng lên tầm cao mới, với yêu cầu xây dựng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời, gắn với đổi mới căn bản quản trị, cơ chế tài chính và xã hội hoá nguồn lực. 

Những nghị quyết này mở rộng không gian phát triển, thúc đẩy hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, nơi người dân được thụ hưởng thành quả phát triển, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

PGS, TS TRẦN QUANG DIỆU, Giám đốc Trung tâm Công nghệ và Chuyển đổi số, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật. tr. 45

[2] Chính phủ Việt Nam. (2021). Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật, tr. 12

[3] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. (2023). Báo cáo thường niên về tình hình lao động và việc làm Việt Nam 2023. Nhà xuất bản Lao động, tr. 78.

[4] World Intellectual Property Organization. (2024). Global Innovation Index 2024: Innovation at the crossroads of an uncertain world. WIPO, tr. 15.

[5] Ngân hàng Thế giới. (2022). Vietnam Climate Change Action Plan 2021-2030. World Bank Group, tr. 89.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 156.

[7] Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật, tr. 23.