Xây dựng căn cứ địa và mở đường Nam tiến

Tháng 6-1940, đồng chí Võ Nguyên Giáp được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Côn Minh. Sau đó, Bác giới thiệu đồng chí đi học Trường Quân chính ở Diên An với lời dặn: “Cố gắng học thêm quân sự”. Tuy nhiên, khi nhận thấy tình hình thế giới có nhiều biến chuyển, là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định hoãn việc cử đồng chí đi học quân sự để về nước xây dựng phong trào.

Từ nhận định của Bác: "Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc”, nên ngay khi về nước, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã cùng các cộng sự ở lại Cao Bằng tìm cơ sở, đặt địa điểm cơ quan chờ ngày đón Bác về. Tại đây, tháng 5-1941, dưới sự chủ trì của Bác, Hội nghị Trung ương 8 họp, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, đề ra chủ trương chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa, duy trì và phát triển cơ sở du kích ở Bắc Sơn-Võ Nhai (Lạng Sơn), củng cố và mở rộng căn cứ địa Cao Bằng, xây dựng hai nơi đó làm trung tâm của công cuộc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa tại Việt Bắc.

Sau hội nghị, Bác giao nhiệm vụ cho đồng chí Võ Nguyên Giáp về châu Hòa An mở các lớp huấn luyện, giúp các châu ủy lập kế hoạch phát triển và củng cố phong trào. “Qua những lớp huấn luyện tại Hòa An và Nguyên Bình, càng thấy rõ, trong khi vận động quần chúng làm cách mạng, nếu nói lên được những nguyện vọng nóng bỏng của quần chúng, những điều liên hệ mật thiết đến đời sống của quần chúng, thì quần chúng rất dễ tiếp thụ, công tác vận động sẽ trở nên có một sức hấp dẫn đặc biệt, sẽ thúc đẩy mạnh mẽ quần chúng tiến lên con đường đấu tranh... Khi cách mạng đã đem đến cho họ một lòng tin, thì không có sức nào lay chuyển được lòng tin đó”-Đại tướng viết trong hồi ký. 

Đồng chí Võ Nguyên Giáp duyệt đội ngũ Giải phóng quân, năm 1945. Ảnh tư liệu 

Dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp, các địa phương đã xây dựng được phong trào dần tổ chức ra các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu. Các tài liệu huấn luyện như: Chiến thuật du kích, Kinh nghiệm du kích Nga, Kinh nghiệm du kích Tàu... do đích thân lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc biên soạn. Đồng chí Võ Nguyên Giáp lược dịch cuốn Chiến tranh du kích kháng Nhật, viết cuốn Công tác chính trị trong quân đội cách mạng và soạn chương trình huấn luyện quân sự, định ra các khẩu lệnh thống nhất. Mọi việc rất mới nhưng được hưởng ứng một cách mạnh mẽ.

Cũng trong khoảng thời gian này, trước tình hình phát triển của phong trào cách mạng trong cả nước, Trung ương nhận định, ngoài liên lạc bằng giao thông bí mật, phải cấp tốc tổ chức những con đường quần chúng từ Cao Bằng đi về xuôi, phòng khi địch khủng bố ta vẫn giữ được liên lạc, hoạt động vũ trang của các đội du kích mới có thể tiến hành thuận lợi. Nếu thời cơ biến chuyển tốt, cách mạng có thể tiến lên tổng khởi nghĩa. Theo chỉ thị của Bác và quyết định của Trung ương, công tác Nam tiến được đặt ra một cách khẩn trương. Đồng chí Võ Nguyên Giáp lại là người được giao cùng đồng chí Lê Thiết Hùng phụ trách Ban Xung phong Nam tiến, thực hiện nhiệm vụ “mở đường” từ Nguyên Bình qua Ngân Sơn, Chợ Rã để nối liền với Chợ Chu, Đại Từ (Thái Nguyên). 

Lời kêu gọi của Đảng và Mặt trận Việt Minh đã được Ban Xung phong Nam tiến tuyên truyền, phổ biến đến quần chúng cách mạng. Phong trào tham gia các đội Nam tiến rầm rộ khắp nơi. Hàng trăm cán bộ, thanh niên tình nguyện thoát ly gia đình vào các đội Nam tiến. Chỉ trong thời gian ngắn, 19 đội xung phong Nam tiến được tổ chức. Con đường Nam tiến kéo dài trên nhiều triền núi và cánh đồng, qua các làng bản của đồng bào. Nhớ lại những ngày này, trong hồi ký “Từ nhân dân mà ra”, Đại tướng viết: “Không khí chuẩn bị khởi nghĩa sôi nổi trên suốt dọc đường. Đồng bào các dân tộc đón tiếp cán bộ như những người ruột thịt đi xa lâu ngày trở về... Đúng tối ba mươi tháng Chạp (năm 1942-PV), phần lớn cán bộ của 19 đội vũ trang xung phong Nam tiến đã đánh thông đường, về tập trung liên hoan mừng thắng lợi. Tổng bộ Việt Minh và Đảng bộ Cao-Bắc-Lạng tặng đoàn cán bộ Nam tiến lá cờ "Xung phong thắng lợi".

Thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân

Trên đường Nam tiến, đồng chí Võ Nguyên Giáp tranh thủ mở thêm các lớp huấn luyện, để vừa bổ sung cán bộ cho Ban Xung phong Nam tiến, vừa củng cố phong trào tại cơ sở. Cho đến cuối tháng 11-1943, các đội xung phong Nam tiến dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của đồng chí đã kết nối liên lạc được với các khu căn cứ, thiết lập được đường dây liên lạc với Trung ương ở miền xuôi, nối liền phong trào cả nước.

Lúc này, thời kỳ cách mạng hòa bình đã qua nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam phải tiến lên hình thức quân sự, đòi hỏi phải có một đội quân chủ lực thống nhất về mặt tổ chức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Thêm một lần nữa, Bác tin tưởng giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp nhiệm vụ tổ chức ra “Đội quân giải phóng”-đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng Việt Nam.  

Thực hiện chỉ thị của Người, với sự chuẩn bị khẩn trương, chu đáo về mọi mặt của đồng chí Võ Nguyên Giáp và Đảng bộ, nhân dân các dân tộc Cao Bằng, chiều 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Nguyên Bình, Cao Bằng). Thay mặt đoàn thể tuyên bố thành lập và vạch rõ nhiệm vụ của Đội, đồng chí khẳng định: “Chúng ta nêu cao tinh thần anh dũng hy sinh. Chúng ta quyết tiến tới để làm tròn nhiệm vụ... Chúng ta nguyện đem xương và máu ra mà làm công việc đó... tỏ rằng mình là một đội quân của  nhân dân, của nước, đi tiền phong trên con đường giải phóng của dân tộc”...

Đến đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai ở giai đoạn cuối, cũng là thời cơ để ta tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Không đầy một tháng sau khi Nhật đảo chính Pháp, các châu Hòa An, Nguyên Bình, Hà Quảng và một phần các châu Bảo Lạc, Quảng Uyên, Trùng Khánh... chính quyền đã về tay nhân dân, Việt Minh ở tổng và xã đều ra công khai. Thanh niên, đặc biệt là những người ở trong các đội tự vệ nô nức tòng quân. Lúc này, ta có 3 hình thức tổ chức của lực lượng vũ trang: Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là chủ chốt; các đội Cứu quốc quân và tự vệ vũ trang, nửa vũ trang ở các địa phương. Theo đề nghị của đồng chí Võ Nguyên Giáp và được sự đồng ý của Trung ương, ngày 15-5-1945, các lực lượng vũ trang được thống nhất, lấy tên là Việt Nam Giải phóng quân. Đây là lực lượng quân sự chủ yếu của Việt Minh khi tiến hành tổng khởi nghĩa.

Do điều kiện lịch sử, bấy giờ, các tỉnh trong cả nước chia thành nhiều chiến khu nên việc chỉ huy chung không thuận lợi. Theo chỉ đạo của Bác, đồng chí Võ Nguyên Giáp nhận nhiệm vụ soạn một dự thảo nghị quyết về việc thành lập Khu giải phóng, bao gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên và một phần ngoại vi các tỉnh lân cận. Sau khi xin ý kiến của Bác và Trung ương, văn bản quan trọng do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp soạn thảo đã được Tổng bộ Việt Minh thông qua tại hội nghị cán bộ ngày 4-6-1945, đánh dấu việc thành lập Khu giải phóng Việt Bắc, đặt dưới sự chỉ đạo của Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được chỉ định là thường trực của Ủy ban, đặc trách vấn đề quân sự. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Võ Nguyên Giáp, Khu giải phóng ngày càng củng cố và phát triển, vững chắc về mọi mặt, làm bàn đạp Nam tiến, giải phóng toàn quốc. Cùng với đó, Giải phóng quân liên tiếp lập chiến công. Thanh thế của bộ đội cách mạng khiến kẻ địch e sợ, đề phòng cẩn mật. Đây là sự chuẩn bị lực lượng to lớn cho khởi nghĩa từng phần, tiến tới tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước.  

Một dấu ấn quan trọng khác cho thấy vai trò của đồng chí Võ Nguyên Giáp trong chuẩn bị tổng khởi nghĩa là việc trở thành một trong 5 thành viên của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, do Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập ngày 13-8-1945. Thay mặt Ủy ban, đồng chí đã ký Quân lệnh số 1, hạ lệnh tổng khởi nghĩa. Quốc dân Đại hội tổ chức tại Tân Trào quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyền và thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam gồm 15 người, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, đồng chí Võ Nguyên Giáp là thành viên. Chiều 16-8-1945, tại cây đa Tân Trào, một đơn vị Giải phóng quân dưới sự chỉ huy của đồng chí đã làm lễ xuất quân về phía Nam, đánh trận đầu giải phóng Thái Nguyên. Nhớ về sự kiện đặc biệt này, Đại tướng viết: "Sau bao năm hoạt động bí mật, sinh sống trong rừng sâu, núi hiểm, mỗi khi qua các làng mạc đều phải đi đêm, nén từng tiếng ho, nhẹ từng bước chân, đến bây giờ, chúng tôi bỗng ra khỏi rừng, giữa ban ngày ung dung đi trên đường cái, trên cánh đồng, được đồng bào nhiệt liệt đón mừng, ai nấy đều hết sức cảm động, sung sướng... Trời như cao hơn, nắng như ấm hơn, ngọn tre, nhánh lúa đều có vẻ tươi sáng hơn mọi ngày. Hương vị tự do, độc lập tràn khắp núi rừng, làng mạc... Trong lòng chúng tôi khi đó rạo rực lạ thường. Trước mắt chúng tôi là lá cờ đỏ sao vàng rực rỡ hào quang, xa xa là nền trời xanh cao lồng lộng, tươi sáng vô cùng của nước Việt Nam giải phóng"...

BÍCH TRANG

* Mời bạn đọc vào chuyên mục 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 xem các tin, bài liên quan.