Hội thảo tập trung đánh giá gánh nặng bệnh tật do RSV, đồng thời trao đổi về công tác giám sát, xét nghiệm và các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống bệnh tại Việt Nam.

TS, bác sĩ Ngũ Duy Nghĩa, Trưởng khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, trình bày tham luận tại hội thảo. 

Phát biểu tại hội thảo, TS, bác sĩ Ngũ Duy Nghĩa, Trưởng khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết, virus hợp bào hô hấp (RSV) là một trong những tác nhân gây nhiễm trùng đường hô hấp phổ biến, lây truyền chủ yếu qua giọt bắn và tiếp xúc với bề mặt nhiễm virus. Hầu hết trẻ em đều từng nhiễm RSV trước 2 tuổi, trong đó, trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ dưới 6 tháng tuổi, có nguy cơ mắc bệnh nặng và tử vong cao hơn. Người cao tuổi và người mắc bệnh nền cũng là những nhóm dễ bị tổn thương khi nhiễm virus này.

Đáng lo ngại, gánh nặng bệnh tật do RSV gây ra trên thế giới vẫn ở mức cao. Theo số liệu nghiên cứu được dẫn tại hội thảo, năm 2019, toàn cầu ước tính có khoảng 33 triệu ca nhiễm trùng đường hô hấp dưới liên quan đến RSV ở trẻ dưới 5 tuổi, trong đó có 3,6 triệu ca nhập viện và khoảng 101.400 ca tử vong. Đáng chú ý, 46% số ca tử vong do RSV xảy ra ở trẻ dưới 6 tháng tuổi, cho thấy mức độ nguy hiểm của bệnh đối với nhóm trẻ nhỏ.

 TS Vũ Ngọc Long, đại diện Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) trình bày tham luận tại hội thảo.

Tại Việt Nam, các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy RSV là tác nhân đáng lưu ý trong các trường hợp trẻ nhập viện do nhiễm trùng đường hô hấp. Theo các nghiên cứu được báo cáo viên dẫn lại, tỷ lệ phát hiện RSV ở trẻ nhập viện tại Bệnh viện Nhi đồng 1 là 26%, tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới là 24%. Một nghiên cứu trên trẻ dưới 2 tuổi mắc viêm tiểu phế quản cấp cũng ghi nhận 50,65% trường hợp nhiễm RSV.

Không chỉ gây ra gánh nặng bệnh tật, RSV còn có đặc điểm lưu hành khác nhau giữa các vùng miền. Tại miền Bắc, virus thường lưu hành mạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau; miền Trung từ tháng 7 đến tháng 11, trong khi miền Nam chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10. Sự khác biệt này đặt ra yêu cầu theo dõi sát diễn biến dịch tễ theo từng khu vực, nâng cao năng lực xét nghiệm nhằm phát hiện, đánh giá xu hướng lưu hành của virus và chủ động triển khai các biện pháp phòng bệnh.

Trước những nguy cơ do RSV gây ra, công tác phòng bệnh, nhất là đối với các nhóm dễ bị tổn thương, ngày càng được quan tâm. TS, bác sĩ Ngũ Duy Nghĩa cho biết, hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với RSV. Bên cạnh các biện pháp vệ sinh cá nhân, vệ sinh đường hô hấp và hạn chế tiếp xúc với người mắc bệnh, những tiến bộ trong y học đã mở ra thêm các giải pháp dự phòng chủ động.

 Toàn cảnh hội thảo khoa học.

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tiêm vắc xin RSV cho phụ nữ mang thai có thể giúp bảo vệ trẻ trong những tháng đầu đời thông qua kháng thể truyền từ mẹ sang con. Bên cạnh đó, kháng thể đơn dòng tác dụng kéo dài là một biện pháp dự phòng bệnh RSV nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh. Đối với người lớn tuổi, tiêm vắc xin RSV được khuyến nghị cho các nhóm tuổi và đối tượng có nguy cơ phù hợp.

Cùng với các biện pháp dự phòng, việc hoàn thiện công tác giám sát bệnh truyền nhiễm được xác định là nhiệm vụ quan trọng nhằm chủ động ứng phó với RSV. Trình bày tham luận “Các quy định về giám sát bệnh truyền nhiễm và định hướng giám sát RSV”, TS Vũ Ngọc Long, đại diện Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) đã làm rõ những quy định hiện hành về giám sát bệnh truyền nhiễm, trong đó chú trọng việc phát hiện, báo cáo, phân tích và đánh giá nguy cơ dịch bệnh. Đối với RSV, TS Vũ Ngọc Long nhấn mạnh sự cần thiết của việc theo dõi thời điểm lưu hành, xác định nhóm nguy cơ, giám sát các trường hợp nhập viện, bệnh nặng và tử vong. Đồng thời, tăng cường phối hợp giữa hệ thống y tế dự phòng và các cơ sở khám, chữa bệnh nhằm nâng cao chất lượng dữ liệu, phục vụ công tác cảnh báo sớm và chủ động phòng, chống dịch bệnh.

Từ những vấn đề được trao đổi tại hội thảo, việc tăng cường giám sát dịch tễ, nâng cao năng lực xét nghiệm và đẩy mạnh truyền thông phòng bệnh có ý nghĩa quan trọng. Đây là cơ sở để ngành y tế chủ động xây dựng các biện pháp phòng, chống phù hợp, góp phần hạn chế các trường hợp mắc bệnh nặng, giảm nguy cơ tử vong và áp lực đối với hệ thống khám, chữa bệnh.