Cục Quân y cho biết, theo thông tin từ Bộ Y tế, từ ngày 27-12-2025 đến ngày 26-1-2026 tại Ấn Độ ghi nhận 5 trường hợp nghi ngờ mắc bệnh do virus Nipah (trong đó có 2 trường hợp xét nghiệm khẳng định). Đây là bệnh truyền nhiễm nhóm A, lây truyền chủ yếu từ động vật sang người, có khả năng lây lan nhanh và tỷ lệ tử vong cao. Một số quốc gia như Thái Lan, Singapore đã áp dụng các biện pháp giám sát chặt chẽ tại cửa khẩu để ngăn ngừa các ca bệnh xâm nhập.

Tại Việt Nam, tính đến ngày 26-1 chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh. Bộ Y tế đã chỉ đạo các địa phương tăng cường công tác giám sát, phòng, chống dịch bệnh tại các cửa khẩu nhằm ngăn chặn ca bệnh nhập cảnh.

Tuy nhiên, trong bối cảnh nhu cầu đi lại quốc tế, giao thương, vận chuyển động vật gia tăng, đặc biệt là trong dịp Tết Nguyên đán, tiềm ẩn nguy cơ bệnh xâm nhập và lây lan trong nước. Để chủ động phòng, chống bệnh do virus Nipah, Cục Quân y cập nhật thông tin và định hướng một số biện pháp phòng, chống dịch.

 Đường lây truyền của virus Nipah. Ảnh: https://tamanhhospital.vn

Về đặc điểm dịch tễ, virus Nipah (Nipah virus – NiV) được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1999 tại Malaysia. Đến năm 2001, bệnh do virus Nipah được ghi nhận đầu tiên trên người tại Bangladesh và sau đó ghi nhận tại Ấn Độ. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), bệnh do NiV ghi nhận rải rác ca bệnh ở phạm vi nhỏ tại một số quốc gia, chưa tạo thành các ổ dịch lớn. Khu vực ASEAN trong 5 năm trở lại đây chưa ghi nhận ca bệnh.

NiV thuộc họ Paramyxoviridae, loài Henipavirus. Đây là một loại virus lây truyền từ động vật sang người. Ổ chứa tự nhiên ở động vật là loài dơi ăn quả (cáo bay). Dơi khi nhiễm virus có thể truyền bệnh cho người và các loại động vật khác như lợn.

Các quốc gia phát hiện loài dơi gây bệnh hoặc có thể xuất hiện bao gồm: Australia, Bangladesh, Bhutan, Brunei, Burma, Campuchia, Trung Quốc, Guam, Ấn độ, Indonesia, Lào, Mariana Islands, Malaysia, Nepal, Pakistan, Palau, Papua New Giunea, Philippines, Singapore, Sri Lanka, Đài Loan, Thái Lan, Timor-Leste, Việt Nam.

NiV có thể lây truyền sang người thông qua tiếp xúc trực tiếp với động vật nhiễm virus như dơi, lợn hoặc dịch cơ thể của chúng (máu, nước tiểu, nước bọt); ăn các thực phẩm bị ô nhiễm mầm bệnh như nhựa cây chà là (palm) hoặc hoa quả bị nhiễm trùng bởi dơi; tiếp xúc gần với người bị nhiễm virus hoặc dịch cơ thể của bệnh nhân (bao gồm dịch mũi, giọt bắn đường hô hấp, nước tiểu, máu).

Về triệu chứng, thời gian ủ bệnh thường từ 4 đến 14 ngày. Bệnh có thể diễn biến từ thể nhẹ đến nặng, thường khởi phát bằng các triệu chứng không đặc hiệu như: Sốt, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, ho, đau họng, khó thở. Giai đoạn toàn phát có thể xuất hiện các dấu hiệu viêm não cấp: Lơ mơ, rối loạn ý thức, mất định hướng, co giật, hôn mê và có thể tử vong nhanh trong vòng 24 đến 48 giờ. Tỷ lệ tử vong ở các trường hợp nhập viện được ghi nhận dao động 40-75% và hiện chưa có vaccine, thuốc điều trị đặc hiệu đối với bệnh do NiV.

Về chẩn đoán, việc chẩn đoán sớm bệnh do NiV là khó khăn do không có bất kỳ triệu chứng đặc hiệu. Tuy nhiên việc phát hiện sớm có ý nghĩa quan trọng trong giảm tỷ lệ tử vong và phòng, chống lây truyền bệnh, kiểm soát ổ dịch.

Do đó, cần nghĩ đến nhiễm NiV ở người bệnh có triệu chứng lâm sàng phù hợp kèm theo tiền sử đi, đến, về từ vùng lưu hành bệnh (Ấn Độ, Bangladesh) hoặc có tiếp xúc với nguồn nghi nhiễm.

NiV có thể phát hiện trong giai đoạn bệnh hoặc giai đoạn hồi phục. Cần xét nghiệm RT-PCT trong giai đoạn sớm từ bệnh phẩm dịch hầu họng, tỵ hầu, dịch não tủy, nước tiểu, máu của người bệnh. Xét nghiệm ELISA trong giai đoạn muộn hoặc hồi phục xét nghiệm kháng thể để chẩn đoán.

Về biện pháp điều trị, hiện chưa có biện pháp điều trị đặc hiệu đối với bệnh nhân NiV. Chủ yếu là điều trị triệu chứng, chăm sóc tích cực, nghỉ ngơi.

Một số thuốc kháng virus như Remdesivir có hiệu quả ở các loài linh trưởng khi được sử dụng như dự phòng sau phơi nhiễm và có thể kết hợp với liệu pháp miễn dịch. Tuy nhiên, chưa được khuyến cáo sử dụng thường quy, chỉ được xem xét trong tình huống đặc biệt.

Về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh do NiV, Cục Quân y khuyến cáo, bệnh do NiV chưa có vaccine phòng bệnh đặc hiệu. Để phòng, chống dịch bệnh do NiV, các đơn vị triển khai thực hiện một số biện pháp sau:

Một là, cần chủ động phòng ngừa. Theo đó cần hạn chế đến khu vực có dịch bệnh do virus Nipah nếu không thực sự cần thiết; thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường. Không tiếp xúc gần với động vật có khả năng lây truyền cao như dơi ăn quả và thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn sau khi giết mổ, tiếp xúc với động vật. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm: Thực hiện "ăn chín, uống sôi", rửa sạch và gọt vỏ trái cây trước khi ăn, không ăn, uống các loại trái cây có dấu hiệu bị động vật (dơi, chim) cắn hoặc gặm nhấm; tránh uống nước nhựa cây (như nhựa cây thốt nốt, nhựa dừa sống hoặc chưa qua chế biến); không sử dụng thực phẩm từ các loại động vật hoang dã.

Hai là, tự theo dõi sức khỏe, trong vòng 14 ngày kể từ khi về từ vùng dịch, nếu có các triệu chứng như: Đau đầu, đau cơ, nôn và đau họng, chóng mặt, buồn ngủ, lú lẫn, co giật cần liên hệ ngay với cơ sở y tế gần nhất, hạn chế tiếp xúc với người khác, thông báo rõ tiền sử dịch tễ cho nhân viên y tế.

Ba là, để chủ động phòng ngừa lây nhiễm cần hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, vật phẩm ô nhiễm từ người bệnh; cần sử dụng khẩu trang, găng tay và đồ bảo hộ cá nhân khi chăm sóc, điều trị người nghi ngờ, mắc bệnh, sau đó rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn.

Cục Quân y đề nghị, các cơ quan, đơn vị khi phát hiện các trường hợp có triệu chứng nghi ngờ và có tiền sử đi, đến, về từ các quốc gia dịch bệnh lưu hành (Ấn Độ, Bangladesh…) phải báo ngay lên quân y cấp trên và tới Cục Quân y để được chỉ đạo, hướng dẫn.