Nguồn lây âm thầm

Theo bác sĩ Nguyễn An Nghĩa, Phó trưởng khoa Nhiễm-Thần kinh, Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP Hồ Chí Minh), bệnh do não mô cầu gây ra bởi vi khuẩn Neisseria meningitidis. Đặc điểm dịch tễ đáng lo ngại là vi khuẩn có thể cư trú ở vùng mũi họng của người hoàn toàn khỏe mạnh mà không gây triệu chứng. Khi ho, hắt hơi hoặc nói chuyện gần, dịch tiết chứa vi khuẩn có thể phát tán và lây cho những người xung quanh ở phạm vi đến 2 mét. Các giọt bắn đường hô hấp cũng có thể rơi xuống bàn ghế, tay nắm cửa và những bề mặt xung quanh, tồn tại lên đến 2 giờ. Người vô tình chạm tay vào và đưa lên mắt, mũi, miệng cũng có nguy cơ lây bệnh.

Người mang trùng vẫn sinh hoạt, học tập, làm việc bình thường nhưng có thể truyền vi khuẩn cho người khác qua dịch tiết đường hô hấp khi ho, hắt hơi, trò chuyện ở khoảng cách gần, hôn hoặc tiếp xúc với nước bọt. Nguy cơ lây nhiễm tăng khi tiếp xúc gần, kéo dài, đặc biệt trong gia đình, trường học, ký túc xá, nơi ở tập thể và không gian đông người, thông khí kém. Nguồn lây từ người không triệu chứng rất khó nhận diện, bởi không thể xác định ai đang mang vi khuẩn chỉ bằng quan sát bên ngoài.

Các nghiên cứu dịch tễ cho thấy thanh thiếu niên và người trẻ thường có tỷ lệ mang não mô cầu cao hơn các nhóm tuổi khác, có thể lên đến khoảng 24% ở một số quần thể được khảo sát, tương đương gần 1 trong 4 người mang vi khuẩn mà không biết. Phần lớn người mang vi khuẩn không phát bệnh, nhưng một tỷ lệ nhỏ có thể tiến triển thành bệnh não mô cầu xâm lấn khi vi khuẩn vượt qua hàng rào niêm mạc, xâm nhập máu hoặc hệ thần kinh trung ương, gây viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết và các biến chứng nghiêm trọng.

Tiêm vaccine phòng bệnh não mô cầu tại Hệ thống tiêm chủng VNVC. Ảnh: PHONG LAN 

Đây là bệnh có thể diễn tiến tối cấp chỉ trong 24 giờ. Sau thời gian ủ bệnh thường khoảng 3-4 ngày, người mắc có thể chỉ sốt, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, dễ nhầm với cúm hoặc nhiễm siêu vi. Tuy nhiên, khi vi khuẩn xâm nhập máu, phản ứng viêm toàn thân dữ dội có thể nhanh chóng gây tổn thương mạch máu, rối loạn đông máu, ban xuất huyết, sốc nhiễm khuẩn và suy đa cơ quan. Nếu xâm nhập màng não, vi khuẩn có thể gây đau đầu dữ dội, nôn, cứng gáy, rối loạn ý thức hoặc co giật. Ngay cả khi được điều trị, tỷ lệ tử vong vẫn có thể khoảng 10%; nếu không được điều trị kịp thời, tỷ lệ này có thể lên đến 50%. Trong số những người sống sót, khoảng 20% có thể để lại di chứng như đoạn chi, sẹo do hoại tử da, mù lòa, điếc, chậm phát triển trí tuệ…

“Điều nguy hiểm là các triệu chứng ban đầu dễ nhầm với bệnh thông thường, trong khi bệnh có thể chuyển nặng chỉ sau vài giờ. Người dân không nên chờ xuất hiện đầy đủ dấu hiệu điển hình mới đến bệnh viện. Khi sốt kèm đau đầu dữ dội, nôn, lơ mơ, ban xuất huyết hoặc tình trạng sức khỏe xấu đi nhanh chóng, cần được đưa đi cấp cứu ngay”, bác sĩ Nghĩa khuyến cáo.

Tăng nguồn lực hỗ trợ phòng bệnh sớm cho người dân

Bác sĩ Chuyên khoa I Bạch Thị Chính, Giám đốc Chuyên môn Y khoa Hệ thống Tiêm chủng VNVC cho biết, nhu cầu tiêm vaccine não mô cầu tăng mạnh sau các ca bệnh liên tiếp được ghi nhận. VNVC chủ động điều phối nguồn vaccine số lượng lớn, tăng cường nhân lực, phục vụ xuyên trưa, kéo dài giờ tiếp nhận, bảo đảm tiêm chủng kịp thời, an toàn. Riêng tại TP Hồ Chí Minh, VNVC tăng cường thêm ưu đãi cho học sinh, sinh viên, giáo viên và sẵn sàng phối hợp với các trường tổ chức truyền thông, tư vấn, rà soát lịch tiêm và tiêm chủng lưu động ngay tại trường.

Hiện VNVC cung ứng đầy đủ các loại vaccine phòng não mô cầu nhóm B, BC và ACYW. Trong đó, vaccine thế hệ mới phòng não mô cầu nhóm B sử dụng từ 2 tháng đến 50 tuổi; vaccine thế hệ mới phòng nhóm ACYW sử dụng từ 6 tuần tuổi; và vaccine phòng nhóm B, C (BC) sử dụng từ 6 tháng đến 45 tuổi. Vaccine nhóm B và A, C, Y, W có thể tiêm cùng buổi tại hai vị trí khác nhau theo chỉ định, giúp giảm số lần đến trung tâm và thuận tiện hoàn thành lịch tiêm.

Theo bác sĩ Chính, để tăng hiệu quả bảo vệ, người dân cần tuân thủ ba nguyên tắc: Tiêm đúng độ tuổi chỉ định, đủ mũi và đúng lịch; tiêm đầy đủ các loại vaccine để được bảo vệ trước 5 nhóm huyết thanh não mô cầu đều có thể gây bệnh nặng A, B, C, Y, W. Hiện mỗi loại vaccine có số mũi và khoảng cách tiêm phù hợp nhằm tạo đáp ứng miễn dịch hiệu quả. Mũi đầu giúp cơ thể nhận diện tác nhân gây bệnh, các mũi tiếp theo củng cố và duy trì khả năng bảo vệ.