Thành phố Hồ Chí Minh.Ảnh Internet

Ngày 14-9, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã làm việc với tập thể Ban Thường vụ Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh để cho ý kiến về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW, ngày 18-11-2002 của Bộ Chính trị (khóa IX); phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 và Đề án thí điểm mô hình chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi nghe Ban Thường vụ Thành ủy báo cáo, ý kiến của Bộ, ban, ngành Trung ương, Bộ Chính trị về cơ bản nhất trí với Báo cáo sơ kết của thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời nhấn mạnh thêm một số điểm: Đảng bộ thành phố đã quán triệt, tổ chức thực hiện Nghị quyết một cách nghiêm túc, tích cực, nội dung của Nghị quyết đã được cụ thể hóa trong các nghị quyết và chương trình hành động của Đảng bộ thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố, các cấp, các ngành của thành phố. Trong quá trình triển khai đã tiến hành sơ kết đánh giá một năm, 3 năm để thực hiện tốt hơn. Nhìn chung, thành phố tiếp tục phát huy tính năng động, sáng tạo, phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh, đóng góp nhiều kinh nghiệm tốt trong các lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo, chăm lo các đối tượng chính sách và vào việc hoàn thiện thể chế quản lý kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước. Cụ thể thành phố đã triển khai tốt 7 mục tiêu mà Nghị quyết 20-NQ/TW đề ra: Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đã vững vàng về chính trị, kiên định mục tiêu xây dựng thành phố XHCN văn minh, hiện đại; chủ động, tích cực và đấu tranh có hiệu quả với âm mưu chống phá của các thế lực thù địch; quan tâm giải quyết những vấn đề phức tạp; giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường xã hội lành mạnh để thu hút các nguồn lực đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố, đóng góp tích cực vào giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Kinh tế tiếp tục giữ được nhịp độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiệu quả, sức cạnh tranh của kinh tế thành phố được nâng lên (tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng nhanh, đạt bình quân 11%/năm trong giai đoạn 2001 - 2005, cao hơn 1,4 - 1,5 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của cả nước). Cơ cấu kinh tế thành phố bước đầu chuyển dịch theo định hướng mà Nghị quyết của Bộ Chính trị đề ra là phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, công nghệ cao, giá trị gia tăng cao. Năm 2006, lần đầu tiên giá trị gia tăng khu vực dịch vụ của thành phố có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP (13,7% so với 12,2%). Các ngành dịch vụ cao cấp (thương mại, tài chính - tín dụng - ngân hàng, dịch vụ viễn thông, khoa học - công nghệ...) và các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao (cơ khí, điện tử - viễn thông, hóa chất...) đều đạt tốc độ tăng trưởng cao từ 1,2 đến 1,5 lần mức tăng bình quân. Công tác xây dựng, điều chỉnh bổ sung quy hoạch sử dụng đất đai, quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng và công tác quản lý đô thị được đặc biệt chú trọng. Công tác di dời hệ thống cảng đang được tiến hành theo đúng tiến độ đề ra, đồng thời bảo đảm các hoạt động vận tải biển và các dịch vụ vận tải bình thường. Quan tâm phát triển nhà ở và chỉnh trang đô thị; di dời các khu nhà “ổ chuột” trong nội thành, thực hiện Chương trình mục tiêu "3 giảm", góp phần chỉnh trang đô thị thành phố. Thành phố đã tăng cường đầu tư cho lĩnh vực giáo dục và tiếp tục xã hội hóa giáo dục, đẩy mạnh công tác phổ cập giáo dục bậc trung học; đầu tư nâng cấp, mở rộng cơ sở vật chất ngành y tế; thành lập và đưa vào hoạt động một số cơ sở y tế kỹ thuật cao, phát triển nhiều bệnh viện tư nhân trong nước và các bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài, góp phần giảm áp lực tại các bệnh viện trên địa bàn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám và điều trị bệnh ngày càng tăng của nhân dân thành phố và các địa phương trong khu vực. Về lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm phát triển, quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa có chuyển biến tích cực. Các chương trình xã hội của thành phố, như chương trình xóa đói giảm nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, chăm lo gia đình chính sách, người nghèo tiếp tục được quan tâm, đạt nhiều kết quả tích cực. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện đề án tổ chức quản lý, dạy nghề, giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện và chăm lo các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao trên địa bàn thành phố. Thành phố đã có nhiều chủ trương, giải pháp chỉ đạo cụ thể để triển khai thực hiện các nghị quyết của Trung ương về nhiệm vụ quốc phòng-an ninh, về chiến lược bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới, về công tác cải cách tư pháp, về phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, về trật tự an toàn giao thông và giải quyết khiếu kiện, đình công trên địa bàn; kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ xây dựng kinh tế với bảo đảm quốc phòng - an ninh trong các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Thành uỷ đã dành nhiều thời gian chỉ đạo công tác xây dựng Đảng trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, tổ chức, kiểm tra, bảo vệ chính trị nội bộ... Công tác cải cách hành chính, chống nhũng nhiễu, tiêu cực, tham nhũng trong các cơ quan hành chính Nhà nước có chuyển biến, hiệu lực quản lý nhà nước được nâng lên. Tăng cường công tác Mặt trận Tổ quốc, công tác thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, về xây dựng giai cấp công nhân, về công tác tôn giáo, công tác dân tộc.

Về những tồn tại và hạn chế, Bộ Chính trị cũng chỉ rõ: Việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ do Nghị quyết đề ra trên một số lĩnh vực còn chậm, lúng túng, kết quả đạt được còn hạn chế, cụ thể là: Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái làm mũi nhọn cho phát triển kinh tế thành phố; việc phát triển các loại thị trường tài chính, khoa học công nghệ, bất động sản, lao động... còn rất chậm, khu vực công nghệ cao còn chiếm tỉ trọng rất nhỏ trong kinh tế của thành phố. Tốc độ tăng trưởng kinh tế còn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và khả năng của thành phố. Hiệu quả, sức cạnh tranh của kinh tế thành phố còn thấp, chưa thực sự phát huy được vai trò trung tâm, đầu tàu của kinh tế với khu vực và cả nước. Công tác quy hoạch, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng và công tác quản lý xây dựng, chỉnh trang đô thị còn rất nhiều hạn chế, yếu kém. Hệ thống giao thông, vận tải hàng hóa, hành khách không đáp ứng được yêu cầu, ách tắc giao thông ngày càng nghiêm trọng. Hệ thống thoát nước của thành phố quá lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường, cản trở sự phát triển kinh tế và khó khăn cho đời sống nhân dân. Chất lượng giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực còn thấp, nhất là nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật cao còn thiếu nhiều trước yêu cầu phát triển của thành phố. Chất lượng các cơ sở y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân chưa đáp ứng được yêu cầu; vệ sinh an toàn thực phẩm đang là vấn đề rất đáng quan tâm và còn gây bức xúc cho nhân dân. Quản lý các sinh hoạt văn hóa trên địa bàn còn nhiều bất cập. Tình trạng tai nạn giao thông, tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội còn phức tạp. Trong công tác cải cách hành chính vẫn còn tình trạng thủ tục hành chính phiền hà, hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền nhà nước các cấp ở thành phố còn nhiều mặt hạn chế. Việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của thành phố còn chưa đáp ứng được yêu cầu.

Nguyên nhân của các hạn chế, yếu kém, Bộ Chính trị cho rằng: Cơ chế, chính sách chung chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập. Mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của chính quyền thành phố chưa phù hợp với yêu cầu của chính quyền đô thị ở một thành phố lớn. Việc phân cấp của Trung ương cho thành phố trong nhiều lĩnh vực còn hạn chế, dẫn đến thành phố chưa có điều kiện để phát huy tính năng động, sáng tạo và huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển. Chất lượng nguồn nhân lực và năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ của thành phố còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Sự phối hợp của các Bộ, ngành Trung ương với thành phố trong việc thực hiện Nghị quyết 20 của Bộ Chính trị chưa thường xuyên, chặt chẽ.

Về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển thành phố đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020, Bộ Chính trị khẳng định: Nghị quyết 20-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác thành phố là đúng đắn, có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của thành phố và vẫn còn nguyên giá trị, cần tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc. Bộ Chính trị tán thành mục tiêu tới năm 2010, tầm nhìn năm 2020 là xây dựng thành phố Hồ Chí Minh trở thành địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh và bền vững, trở thành một thành phố xã hội chủ nghĩa văn minh, hiện đại, một trung tâm lớn về nhiều mặt của cả nước. Bộ Chính trị nhấn mạnh: Thành phố phải tiếp tục quan tâm, củng cố quốc phòng, an ninh, giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc (đình công, khiếu kiện), các vấn đề dân tộc, tôn giáo, cảnh giác, làm thất bại các âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, kinh tế - xã hội của thành phố; đóng góp vào giữ gìn ổn định của cả nước. Thành phố cần quan tâm làm tốt công tác quy hoạch, nâng cao chất lượng quy hoạch về tất cả các lĩnh vực, đặc biệt chú ý quy hoạch phát triển đô thị, quy hoạch xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng để bảo đảm cho sự phát triển lâu dài của thành phố theo hướng văn minh, hiện đại; đẩy nhanh hơn chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đi vào phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, giá trị gia tăng cao, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái để khu vực này chiếm tỷ trọng cao trong kinh tế thành phố; phát triển nhanh, bền vững các thị trường tài chính, khoa học công nghệ, bất động sản, thị trường lao động để huy động các nguồn lực cho phát triển thành phố; đồng thời xây dựng thành phố thành trung tâm tài chính, khoa học công nghệ của khu vực và cả nước. Thành phố phải phấn đấu để kinh tế phát triển nhanh hơn, hiệu quả, chất lượng, sức cạnh tranh cao hơn và đóng góp tích cực hơn cho cả nước. Bên cạnh đó, thành phố cần đặc biệt quan tâm phát triển mạnh hệ thống cơ sở giao thông vận tải, điện, nước, xây dựng và quản lý đô thị, khắc phục nhanh yếu kém, lạc hậu của các lĩnh vực này; huy động mạnh mẽ các nguồn lực trong, ngoài nước, của tất cả các thành phần kinh tế để xây dựng kết cấu hạ tầng (cả đường bộ, đường ngầm, đường trên cao v.v...); phấn đấu khắc phục được tình trạng ách tắc giao thông, úng ngập trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và đời sống; làm tốt công tác quản lý xây dựng, chỉnh trang đô thị ở khu đô thị cũ, phát triển nhanh, có chất lượng các khu đô thị mới; phát huy các phong trào xã hội, các kết quả đã đạt được, làm tốt hơn nữa công tác xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc các đối tượng xã hội. Thành phố phải hết sức chú ý việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố, nhất là khi phát triển các ngành có trình độ công nghệ cao; nâng cấp các cơ sở y tế, từ cơ sở tới thành phố (xây dựng những bệnh viện chất lượng cao) để nâng chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân; tổ chức và quản lý tốt các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của nhân dân; đấu tranh đẩy lùi tội phạm hình sự, tai nạn giao thông, các tệ nạn ma túy, mại dâm... xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh đô thị.

Trong lĩnh vực xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, thành phố cần đẩy mạnh hơn cải cách hành chính, tiếp tục loại bỏ các thủ tục hành chính phiền hà, xây dựng, củng cố chính quyền đô thị, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và nhân dân trong sản xuất và sinh hoạt; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức của thành phố đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

Việc thí điểm xây dựng chính quyền đô thị, Bộ Chính trị về cơ bản nhất trí với chủ trương thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị thành phố lập đề án để trình Chính phủ và Quốc hội quyết định.

TTXVN