QĐND - LTS: Thời gian qua, Báo Quân đội nhân dân nhận được nhiều ý kiến của không ít bạn đọc xung quanh bài viết "Hưu nông dân" - Mô hình cần nhân rộng. Nhiều người ủng hộ ý tưởng của TS Hồ Bá Quỳnh, nhưng cũng có không ít ý kiến ngược lại. Để có thêm cơ sở phân tích, lý giải tính khả thi và giá trị thực tế của vấn đề, chúng tôi xin lựa chọn và giới thiệu đến bạn đọc một số ý kiến khác nhau đó. Mọi sự trao đổi xin bạn đọc gửi về theo địa chỉ sau: Phòng biên tập CTĐ, CTCT, Báo Quân đội nhân dân, số 7 Phan Đình Phùng, Hà Nội; thư điện tử: chinhtriqdnd@yahoo.com.vn

Thực tiễn đòi hỏi nên ứng dụng mô hình “Hưu nông dân”

Đọc bài: "Hưu nông dân"- Mô hình cần nhân rộng và một số ý kiến xung quanh vấn đề này được đăng trên Báo Quân đội nhân dân thời gian qua, tôi thấy mô hình mà TS Hồ Bá Quỳnh đề cập có thể đáp ứng được đòi hỏi thực tiễn xã hội đặt ra. Xin dẫn chứng những số liệu cụ thể từ thực tiễn để các cơ quan chức năng nghiên cứu về tính hữu dụng của mô hình này.

Theo pháp luật Việt Nam, những người 60 tuổi trở lên được coi là người cao tuổi. Hiện nay, cùng với xu hướng chung của thế giới, người cao tuổi Việt Nam không ngừng tăng cả về số lượng và tỷ lệ. Năm 1979, tỷ lệ người cao tuổi chiếm 6,90% dân số. Năm 2007, tỷ lệ người cao tuổi là 9,45%. Dự báo đến năm 2020, tỷ lệ người cao tuổi ở Việt Nam chiếm khoảng 11,24% dân số. (Theo NCPFC: Báo cáo quốc gia, tháng 12-2002; TCTK: Điều tra DS-KHHGĐ 2007 và Dự báo dân số, gia đình và trẻ em Việt Nam đến năm 2025 của Ủy ban Dân số, gia đình và trẻ em, tháng 6-2006).

Người cao tuổi ở nước ta chủ yếu sống ở nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp. Năm 2005, hơn 74% người cao tuổi Việt Nam sống ở nông thôn. Trong số người cao tuổi, chỉ có khoảng 16-17% được hưởng lương hưu hoặc mất sức; hơn 10% các cụ hưởng trợ cấp người có công với nước. Như vậy, còn hơn 70% người cao tuổi hiện nay sống bằng lao động của mình, bằng nguồn hỗ trợ của con cháu và gia đình. Trong khi, một thực tế hiện nay diễn ra ở nông thôn nước ta là diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp; năng suất cây trồng chưa cao; thu nhập thấp, ít có tiết kiệm để chi tiêu khi tuổi già. Theo đề tài nghiên cứu hồi tháng 3-2000, do Vụ Các vấn đề xã hội, Văn phòng Quốc hội tiến hành thì đời sống vật chất của người cao tuổi còn rất khó khăn. Về đời sống vật chất, hơn 60% số người cao tuổi được cho là khó khăn, 37% trung bình và chỉ có 1% dư dật. Về tinh thần: 13% người cao tuổi gặp trắc trở, 60% thấy bình thường, chỉ có 20% cảm thấy thoải mái.

Từ thực trạng đó đặt ra vấn đề, ngay từ bây giờ, cần đẩy mạnh nghiên cứu đề xuất những chính sách, chiến lược quốc gia nhằm đối phó với xu hướng già hóa dân số diễn ra ngày càng nhanh. Gia đình, xã hội và Nhà nước cần giải đáp những câu hỏi đặt ra như: Nguồn sống của người già? Thu nhập của người đã hết tuổi lao động? Tổ chức cuộc sống cho người già tại gia đình hay các trại dưỡng lão? Vấn đề chăm sóc sức khỏe và động viên tinh thần cho người cao tuổi...?

Trên thế giới, nhiều nước có thu nhập bình quân đầu người cao như Mỹ, Nhật Bản… có chính sách ưu đãi (trợ giá) cho người nông dân. Nhật Bản (từ 1984-1986) bình quân hằng năm Chính phủ trợ giá  khoảng 68,9% tổng thu nhập của nông dân. Nghĩa là hơn 2/3 thu nhập của nông dân hằng năm do kinh phí nhà nước đài thọ. Cách trợ giá như vậy cũng được áp dụng ở Ca-na-đa là 39,1%; Áo là 35,3%… Ở nước ta, thực lực nền kinh tế và cơ cấu dân số, đặc biệt tỷ lệ nông dân chiếm 80% dân số nên chưa cho phép Chính phủ hỗ trợ, trợ giá cho nông dân như những nước nói trên. Bởi vậy, tôi cho rằng: Hiện tại, vấn đề "Hưu nông dân" là mô hình có tính khả thi nhất, góp phần nâng cao chất lượng đời sống của người nông dân, đồng thời thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Từ những vấn đề thực tiễn như vậy, thiết nghĩ, các ngành chức năng cần tiếp tục nghiên cứu, có những chính sách cụ thể đối với nông dân và người cao tuổi, mà trước hết là vận dụng mô hình “Hưu nông dân”. Tất nhiên, để hiện thực hóa mô hình cần tiếp tục thí điểm, nghiên cứu đồng bộ, đủ cơ sở khoa học nhằm giải quyết tận gốc vấn đề mà TS Hồ Bá Quỳnh nêu ra.

Nguyễn Tấn Tuân

Một cách tính lương hưu khoa học

Công thức tính lương “Hưu nông dân” mà TS Hồ Bá Quỳnh đưa ra là: Tn = T1 x b x {(bn - 1)/a} (trong đó, Tn: Số tiền vốn và lãi cộng dồn từ khi gửi đến khi tính hưu; T1: Là số tiền gửi mỗi lần trong tháng; a: Lãi suất gửi tiết kiệm dài hạn hiện hành; b: Là 1 + a; n: Là số tháng đã gửi từ đầu kỳ đến kỳ tính lương hưu).

Thử kiểm định công thức. Nếu nông dân đóng mỗi tháng 10.000 đồng, liên tục trong 30 năm (360 tháng), lãi suất Nhà nước quy định giả sử là 1%, thì khi gửi vào ngân hàng cộng dồn cả vốn lẫn lãi là 35.299.000 đồng. Do vậy, lương hưu của nông dân đó sẽ là 352.990 đồng. Nhưng trên thực tế, người nông dân không chỉ đóng có 10.000 đồng mà mức đóng có thể cao hơn. Mức đóng 20.000 đồng thì lương hưu tăng gấp đôi…

Với cách tính như vậy, khi người dân đóng quỹ hưu vào ngân hàng (Nhà nước không đánh thuế) thì lãi mẹ đẻ lãi con. Và kết quả tính toán của TS Hồ Bá Quỳnh: “Nếu chế độ “Hưu nông dân” được áp dụng trên toàn quốc thì đến năm 2043, đất nước ta không còn người nghèo” là ý tưởng hoàn toàn khả thi.

Hơn nữa, tính về cơ cấu độ tuổi thì người đang độ tuổi lao động (theo kết quả cuộc tổng điều tra dân số năm 2007, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động là 65% dân số. Người hết tuổi lao động là 9,45%. Như vậy, có thể đưa ra kết luận, số người tham gia đóng quỹ lương hưu cao gấp nhiều lần so với số người được hưởng lương hưu và hiển nhiên mức lương hưu sẽ tăng lên n lần, với công thức: n = số người đóng vào quỹ/số người được hưởng lương hưu.

Không chỉ vậy, Quỹ "Hưu nông dân" còn sử dụng để lưu động vốn. Khi ngân hàng nhận tiền từ Quỹ "Hưu nông dân" rồi cho các nhà sản xuất, kinh doanh vay thì phần lợi nhuận phát sinh do chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và cho vay từ vốn của quỹ này (không phải nộp thuế Nhà nước) là rất lớn. Nông dân còn được hưởng lợi từ việc vay vốn Quỹ "Hưu nông dân" với lãi suất thấp để đầu tư sản xuất trên đồng ruộng của mình.

Từ cách tính lương hưu khoa học như vậy, theo tôi nên nhân rộng mô hình “Hưu nông dân”.

Ngô Thanh (Hoài Đức, Hà Nội)

“Hưu nông dân” - liệu có viễn tưởng?

Tôi đã dành nhiều thời gian nghiên cứu những vấn đề xung quanh nội dung bài “Hưu nông dân" - Mô hình cần nhân rộng đăng trên Báo Quân đội nhân dân. Với quan điểm của cá nhân, tôi xin được có đôi điều xung quanh đề tài của TS Hồ Bá Quỳnh.

Trước hết, là người làm công tác nghiên cứu khoa học, tôi cho rằng chúng ta cần phân biệt giữa việc đánh giá một luận án tiến sĩ với một đề tài khoa học để ứng dụng trong cuộc sống. Có rất nhiều trường hợp, các luận án tiến sĩ được đánh giá cao không phải bởi để áp dụng trong cuộc sống mà chỉ là ghi nhận tầm tư duy lô-gích và tâm huyết của nghiên cứu sinh. Ở nước ta, hiện tượng như vậy có rất nhiều.

TS Hồ Bá Quỳnh là một người có tư duy độc lập, sự tâm huyết và khát vọng của ông về “Hưu nông dân” là không thể bàn cãi. Tôi kính phục ông về điểm này. Tuy nhiên, sau khi đọc bài báo, tôi thấy có nhiều mâu thuẫn. Luận điểm lớn nhất mà TS Hồ Bá Quỳnh nêu ra là người nông dân dù đóng góp ở mức tối thiểu 10.000 đồng/tháng thì sau 20 năm đã có thể lĩnh lương hưu. Lương hưu ấy từ đâu mà ra, như TS Hồ Bá Quỳnh nói: "Người nhận hưu nông dân sẽ nhận số lương hưu của mình bằng số tiền lãi hằng tháng, số tiền vốn được giữ nguyên để sinh lời cho những năm tháng tiếp theo. Như vậy, nếu người hưởng lương hưu chẳng may qua đời thì con cháu họ vẫn tiếp tục được hưởng". Tôi xin làm phép tính đơn giản: Nếu một nông dân đóng 10.000 đồng/tháng trong 20 năm, kể cả vốn lẫn lãi tích lũy theo tính toán của TS Hồ Bá Quỳnh là 9.882.554 đồng. Như vậy, khi bắt đầu hưởng lương sau 20 năm tham gia Quỹ “Hưu nông dân” mà chưa trừ một đồng chi phí quản lý nào thì người nông dân được nhận là 98.926 đồng. Số tiền ít ỏi như vậy có thể gọi là “lương hưu” được không? Ai có thể sống ở mức tối thiểu với số tiền ấy? Hơn nữa, phép tính đơn giản trên mà tôi vừa thực hiện chưa đề cập đến chuyện không phải bao giờ lãi suất tiết kiệm cũng có thể đạt mức 1%/tháng. Vì lẽ đó, mức đóng bảo hiểm tự nguyện mà BHXH tỉnh Nghệ An đưa ra, sau khi tiếp quản Quỹ "Hưu nông dân" theo ý tưởng của TS Hồ Bá Quỳnh ở mức tối thiểu là 85.000 đồng/tháng có cơ sở khoa học.

TS Hồ Bá Quỳnh nói rằng, ông không hiểu vì sao Quỹ "Hưu nông dân" đang hoạt động lại phải chuyển sang cho BHXH tỉnh Nghệ An quản lý và nâng mức thu phí tối thiểu từ 10.000 đồng/người/tháng lên 85.000 đồng/người/tháng; tôi nghĩ không cần phải đợi thêm, bởi phép tính trên đã là câu trả lời.

Trần Quốc Tuấn (Số 82, Trần Bình Trọng, thành phố Thanh Hóa)

Không khả thi vì chưa tính trượt giá

Trong thời gian vừa qua, tôi rất chú ý theo dõi các ý kiến hồi âm về bài “Hưu nông dân"-Mô hình cần nhân rộng”. Tự bản thân tôi cũng đặt ra cho mình các bài toán để trả lời cho câu hỏi: Tại sao ý tưởng có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc và thiết thực như thế lại không được thực hiện. Tôi đã tìm đọc cuốn sách “Hưu nông dân” của TS Hồ Bá Quỳnh và nhận thấy: Bản chất của "Hưu nông dân" là tiền gửi tiết kiệm, lấy sự tham gia của đông đảo nông dân nhằm tạo nguồn vốn lớn, trường kỳ tích tiểu thành đại để tạo lãi suất. Công thức tính "Hưu nông dân" được TS Hồ Bá Quỳnh đưa ra là: Tn = T1 x b x {(bn - 1)/a}.

Nhìn vào công thức này, tôi thấy rằng TS Hồ Bá Quỳnh đã không đưa yếu tố tăng giá, trượt giá vào công thức để bảo đảm giá trị tiền gửi của người nông dân. Về nguyên tắc, không một loại hình quỹ tiền tệ nào có thể tồn tại được nếu không tính đến yếu tố bảo đảm giá trị tiền gửi. Hơn nữa, Quỹ "Hưu nông dân", như mong muốn của TS Hồ Bá Quỳnh là tồn tại lâu dài, vĩnh viễn mà không tính đến yếu tố này thì càng không đủ cơ sở khoa học. Đặc biệt, về nội lực, nền kinh tế Việt Nam còn rất yếu, muốn phát triển, Nhà nước phải luôn luôn duy trì tỷ giá lạm phát nhằm khuyến khích xuất khẩu. Điều này đồng nghĩa với việc đồng tiền Việt Nam sẽ liên tục mất giá, thậm chí phát triển càng “nóng” thì sự mất giá của đồng tiền càng lớn. Bài học về việc người nông dân bán một con trâu gửi vào quỹ tín dụng, sau 10 năm rút ra được số tiền lớn gấp ba lần nhưng lại chỉ mua được... một con gà vẫn luôn nhắc nhở chúng ta phải tính toán thật kỹ mỗi khi tiến hành các giải pháp an sinh xã hội cho nông dân.

Nếu vận hành Quỹ "Hưu nông dân" theo công thức của TS Hồ Bá Quỳnh thì khi Nhà nước nâng lương chung cho các đối tượng trong xã hội thì lương hưu nông dân vẫn không được nâng. Tôi xin lấy một ví dụ, theo bảng tính toán của TS Hồ Bá Quỳnh, một nông dân đóng đều đặn mỗi tháng 10.000 đồng thì sau 30 năm, sẽ có đồng vốn là 35.299.138 đồng, hưởng lương hưu hằng tháng là 349.000 đồng. Hiện giờ (năm 2011) thì 349.000 đồng có thể nuôi người nông dân được 12 ngày (tính theo mức lương tối thiểu hiện hành là 730.000 đồng/tháng) nhưng sau 30 năm nữa họ mới được hưởng. Thử tính, mức độ trượt giá là hơn 9% năm như năm 2010 vừa qua, thì sau 30 năm nữa, giá trị của 349.000 đồng lúc đó sẽ chỉ tương đương khoảng 116.000 đồng hiện nay. Chính nông dân sẽ nhìn ra điều này và tôi tin chắc rằng, sau khi tính toán thiệt hơn, người nông dân sẽ “nói không” với vấn đề được TS Hồ Bá Quỳnh đưa ra.

Mặt khác, Quỹ "Hưu nông dân" không có khả năng hoạt động kinh doanh sinh lời mà chỉ còn cách là gửi ngân hàng để hưởng lãi suất theo chế độ lãi suất tiền gửi, trong khi thanh toán lãi suất cho người tham gia bảo hiểm lại phải trả theo chế độ lãi suất tiền vay. Mâu thuẫn này càng cho thấy, Quỹ "Hưu nông dân" mà TS Hồ Bá Quỳnh đề xuất không thể trở thành hiện thực trong cuộc sống.

TS Nguyễn Duy Chương (Hà Đông, Hà Nội)