 |
|
Chuyển hàng cứu trợ cho đồng bào vùng lũ. Ảnh: toquoc |
Các tỉnh, thành phố miền Trung vừa trải qua trận lũ lịch sử. Số liệu thống kê cho thấy, sự tàn phá của thiên nhiên là vô cùng khốc liệt, tổn thất là vô cùng nặng nề. Phải kịp thời rút kinh nghiệm và tìm cách “sống chung với lũ” như thế nào để tránh được hiểm hoạ, đó là yêu cầu cấp bách đặt ra không chỉ riêng với một địa phương, mà đòi hỏi sự quan tâm của toàn xã hội…
Những con số đau lòng
Báo cáo tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XII vừa qua, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng cho biết, thiệt hại do lũ lụt gây ra ở các địa phương miền Trung xấp xỉ 1% tổng thu nhập quốc dân.
Chỉ tính riêng tỉnh nghèo Quảng Nam, tổng thiệt hại đã là 2.000 tỷ đồng; lũ lụt đã làm 47 người chết, 3 người mất tích, 339 người bị thương. Hơn 200 nghìn ngôi nhà bị ngập, 1.518 ngôi nhà bị sập và bị lũ cuốn trôi. Thành phố Đà Nẵng có hơn 22.000 ngôi nhà bị ngập, thiệt hại lên tới 1.600 tỷ đồng. Ba địa phương: thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, có tới 70% số trường học, bệnh xá bị ngập nước, hàng chục vạn bản sách bị ướt và hư hỏng. Cho đến nay, các xã: Phước Lợi, Phước Thành, Phước Kim, Phước Công, Phước Chính của huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam, vẫn còn đang phải gánh những khó khăn chồng chất. Giá gạo ở các xã này tăng cao ngất ngưởng, ở mức kỷ lục 17.000đ/kg; mì tôm, dầu ăn, thực phẩm tươi sống… cao gấp hai, ba lần so với trước khi bị lũ chia cắt. Vẫn biết, thảm hoạ do thiên tai gây ra là vô cùng to lớn, sức tàn phá là vô cùng nặng nề, nhưng nếu các địa phương chủ động đối phó một cách quyết liệt, thì chắc chắn sẽ hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất đáng tiếc.
Tổn thất do chủ quan, thiếu biện pháp kiên quyết
Trước hết có thể nói, những tổn thất về người và tài sản của các tỉnh miền Trung vừa qua, một phần do sự chủ quan và thiếu phương án cùng những biện pháp phòng, chống hữu hiệu.
Lâu nay chúng ta nói nhiều tới phương châm “bốn tại chỗ”, nhưng dường như phương châm này chưa được các địa phương thực hiện, vận dụng một cách đúng mức. Vì vậy, khi lũ lụt xảy ra, nhân dân và chính quyền địa phương hết sức lúng túng, đặc biệt là ở các thôn xóm, xã phường. Lực lượng tại chỗ là dân quân cơ động, là thanh niên xung kích. Khi lũ lụt, được huy động làm nhiệm vụ, nhưng do thiếu phương tiện, hoặc có nhưng không biết sử dụng nên không đáp ứng được yêu cầu ứng cứu. Nếu mỗi xã, phường trong vùng ngập úng được trang bị vài, ba chiếc thuyền và dân quân cơ động được huấn luyện kỹ thuật sử dụng phương tiện ấy, thì việc tổ chức di dời, ứng cứu sẽ hiệu quả biết chừng nào! Bên cạnh việc thiếu phương tiện, là thiếu sự quy hoạch, hướng dẫn cho người dân chủ động tránh lũ. Nếu như mỗi căn hộ có một gác xép để tránh lũ, thì không có cảnh hàng chục nghìn gia đình bị ướt hết thóc gạo, cùng với đó nếu liên thôn, liên xã có được một vài điểm cao ráo để “sơ tán” gia cầm, gia súc, thì đã không có cảnh nhiều gia đình trắng tay vì mất hết cả đàn trâu, bò, gà vịt. Chỉ tính riêng tỉnh Quảng Nam, trong 5 đợt lũ lụt vừa qua, có tới hơn 25 nghìn tấn thóc, gạo bị hư hỏng, kém phẩm chất vì bị ngâm nước lâu ngày; 500 nghìn con gia cầm, gia súc bị lũ cuốn trôi. Điều đáng nói là do chủ quan, nên số thóc gạo bị ướt, số gia cầm gia súc bị cuốn trôi của các trận lũ sau lại nhiều hơn trận lũ trước. Vì thiếu sự kiên quyết của chính quyền và sự chủ quan của người dân, nên số người chết và mất tích cũng tăng cao. Nếu như mỗi thôn, xóm, mỗi xã phường lập được các trạm kiểm soát để cảnh báo và ngăn chặn không cho nhân dân đi lại, cấm các hoạt động vớt củi trên sông…thì chắc chắn sẽ không có những cái chết thương tâm xảy ra. Còn nhiều và rất nhiều những điều cần bàn, chúng tôi xin đề xuất ở phần sau.
Vận dụng sáng tạo phương châm “bốn tại chỗ”
Trong các trận lũ vừa qua, địa phương nào thực hiện tốt phương châm “bốn tại chỗ”, thì hạn chế được rất nhiều thiệt hại. Quận Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) là một ví dụ.
Ngũ Hành Sơn là một trong những địa bàn thuộc vùng trũng của thành phố Đà Nẵng. Đỉnh lũ năm nay vượt đỉnh năm 1999. Có tới 3.480 hộ dân, với 14.595 người phải di dời, cả 4/4 phường đều bị ngập, có phường bị ngập trắng. Tuy nhiên mức độ thiệt hại của quận này rất thấp so với năm 1999, chỉ có một người bị chết sau khi nước rút. Có được kết quả đáng ghi nhận này là do địa phương đã chủ động triển khai các phương án một cách kiên quyết. Nhân dân vùng lũ vẫn sống được với lũ nhờ những ngôi nhà có gác xép, đây không chỉ là nơi cất giữ tài sản, mà còn là nơi trú ngụ của nhiều gia đình trong lũ. Mặt khác, chính quyền không có chủ trương di dân khỏi địa phương, mà áp dụng phương án “di dân nội vùng”, đưa dân từ vùng trũng lên vùng cao, từ nhà không kiên cố lên nhà kiên cố. Bố trí lực lượng thường xuyên tuần tra canh phòng, ngăn chặn nhân dân đi lại và bảo vệ tài sản cho những hộ phải sơ tán…
Từ thực tiễn, chúng tôi đề xuất một số biện pháp cấp bách sau đây. Trước hết, về quy hoạch, từng thôn, xã, lên đến huyện, tỉnh phải xác định cho được những “địa chỉ” để di dời nhân dân khi có tình huống xảy ra. Đồng thời, tổ chức phân cấp, lũ lụt ở mức nào thì thôn, xã di dời, mức nào thì huyện, tỉnh giúp sức, tránh đến mức thấp nhất việc di dân ra khỏi nội vùng (trừ trường hợp bất khả kháng). Với các trường học, bệnh xá, nên sắp xếp phòng đọc, thư viện, kho thuốc, nơi để dụng cụ y tế ở tầng hai. Việc ướt hư hỏng hàng vạn bản sách ở các trường học, hư hỏng thuốc men, dụng cụ y tế ở các bệnh xá trong vùng lũ vừa qua chính là do sự sắp đặt không hợp lý. Đối với các huyện miền núi thường bị chia cắt do sạt lở đất, cần có những kho lương thực, thực phẩm dự trữ để sẵn sàng ứng cứu nhân dân.
Hai là, vận động các gia đình trong vùng lũ làm gác xép tránh lũ. Đây chính là nơi cất giữ tài sản, là nơi trú ngụ cầm cự với lũ của nhân dân. Ở huyện Quế Sơn (Quảng Nam), một số nơi nhân dân còn có sáng kiến dự trữ nước uống, bếp dầu và lương thực trên gác xép, với lượng dự trữ có thể dùng từ 5 đến 7 ngày. Đây chính là câu trả lời, tại sao Quế Sơn cũng bị ngập úng nhưng thóc gạo không bị ướt và các nhà dân ngày ba bữa vẫn đỏ lửa.
Ba là, mỗi xã, phường trong vùng trũng thường xuyên bị ngập úng cần được trang bị từ ba đến bốn thuyền chèo chắc chắn. Các trung đội dân quân cơ động phải được huấn luyện sử dụng thành thạo phương tiện này, bởi đây chính là lực lượng cứu hộ tại chỗ nhanh nhất, hiệu quả nhất. Hiệu quả của đội thuyền cứu hộ quận Liên Chiểu (Đà Nẵng) là một minh chứng. Đội thuyền này không chỉ cứu hộ nhân dân trong vùng, mà còn cơ động vào Quảng Nam, ra Thừa Thiên-Huế giúp dân vùng lũ.
Bốn là, tổ chức cắm biển báo những nơi nguy hiểm trong vùng lũ, làm cọc tiêu hướng dẫn, để xuồng, thuyền dễ cơ động. Trong trận lũ vừa qua nhiều phương tiện đi cứu hộ bị mắc kẹt do vướng phải chướng ngại vật vì thiếu những cọc tiêu hướng dẫn. Đồng thời, tổ chức các trạm trực canh, các đội tuần tiễu vừa để ngăn chặn, cảnh báo nhân dân, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ tài sản cho các hộ phải di dời.
Bão, lũ là quy luật tự nhiên của thiên nhiên, sức tàn phá khó lường. Để phòng, tránh lũ nhân dân vùng lũ cũng không thể hết năm này sang năm khác rời bỏ quê hương, bản quán đi nơi khác được. Vì vậy “sống chung với lũ” và “sống an toàn trong vùng lũ” đang là đòi hỏi bức thiết của nhân dân. Chúng tôi nêu một vài biện pháp, tạm coi là kinh nghiệm rút ra từ thực tế, rất mong các nhà quản lý, các nhà khoa học và chính quyền các địa phương tham khảo, để cùng vào cuộc nghiên cứu sớm tìm ra những giải pháp, phương án mang tính bền vững và khoa học. Và giải pháp, phương án nào cũng phải tính đến 3 mục tiêu: bảo đảm an toàn tính mạng, giảm thiệt hại về tài sản và không để dân phải đói rét, đau ốm.
ĐẶNG TRUNG HỘI