QĐND Online - Hiện nay, Luật Thuế môi trường đang được gấp rút hoàn thiện, dự kiến trình Quốc hội thông qua vào tháng 11-2010 và sẽ có hiệu lực thi hành từ 1-1-2012. Sau quá trình Bộ Tài chính lấy ý kiến rộng rãi của các cơ quan, Bộ, ngành, UBND các tỉnh, các hiệp hội, Tập đoàn, Tổng công ty và các cá nhân, hiện có nhiều luồng ý kiến cho rằng: khi thu loại thuế này sẽ gây tác động không nhỏ đến đời sống xã hội, làm tăng giá cả nhiều mặt hàng như than, xăng dầu, thuốc bảo vệ thực vật…, những đối tượng mà Luật sẽ chi phối. Bên lề Hội thảo thảo luận về Luật Thuế môi trường mới diễn ra tại Vĩnh Phúc vừa qua, Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế - Bộ Tài chính- ông Vũ Văn Trường, Trưởng ban soạn thảo dự án Luật đã trao đổi với phóng viên (PV) một số vấn đề xung quanh Dự thảo Luật thuế này.

PV: Tại sao chúng ta cần phải sớm hoàn thiện và ban hành Luật Thuế môi trường, thưa ông?

Ông Vũ Văn Trường: Thứ nhất là do thực trạng môi trường ở nước ta hiện nay đang ở mức báo động. Theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ô nhiễm môi trường đã diễn biến phức tạp, trên diện rộng, không chỉ ở trên mặt đất, trong nguồn nước, trong không khí, mà còn trong đất, nước ngầm…Thực tế ô nhiễm như vậy đang tác động, ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế bền vững và càng có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng đến đời sống người dân. Thứ hai là xuất phát từ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hướng đến bảo vệ môi trường sinh thái và hướng vào phát triển kinh tế bền vững.

Ông Vũ Văn Trường -Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính. Ảnh: Quang Tuấn.

Thời gian qua, chúng ta cũng đã có một số chính sách về thuế môi trường, xây dựng một số loại phí môi trường với các chất rắn, chất thải, nguồn nước thải, tài nguyên…Tuy những chế tài như vậy cũng đã có tác dụng không nhỏ lên ý thức cộng đồng nhưng vẫn chưa đầy đủ và thực sự hoàn thiện; chưa tạo ra sức lan tỏa, làm chuyển biến nhận thức của cộng đồng, doanh nghiệp về xây dựng và bảo vệ môi trường bền vững. Sắc thuế này được ban hành cũng nằm trong lộ trình hoàn thiện chính sách thuế của Chính phủ. Trong hoàn thiện các sắc thuế, Chính phủ cũng đã tính đến cần thiết và phải sớm đưa ra sắc luật Thuế môi trường. Cụ thể là vào thời điểm cuối năm 2010 này, Chính phủ sẽ trình Quốc hội thông qua và sớm đưa Thuế môi trường vào cuộc sống.

PV: Thưa ông, căn cứ vào đâu chúng ta đưa ra luật thuế này để vừa đảm bảo hoàn thiện chính sách thuế và thiết thực với xã hội?

Ông Vũ Văn Trường: Việc ban hành luật thuế này căn cứ vào sự cần thiết, thiết thực từ đòi hỏi của cuộc sống. Chúng ta cần phải xây dựng nó, hoàn thiện và phát triển bền vững đi đôi với việc đảm bảo môi trường xanh sạch hơn; đồng thời góp phần vào làm thay đổi nhận thức và hành vi của con người trong việc sử dụng và đưa ra các sản phẩm làm sao không gây hại cho môi trường, môi sinh. Chúng ta cũng có thể học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới, các nước có nền kinh tế tiên tiến đã trải qua giai đoạn “đang phát triển”, hoặc các nước trong điều kiện kinh tế tương đồng như Việt Nam; họ đã xây dựng, kiến thiết đất nước và bảo vệ môi trường hiệu quả như thế nào, để từ đó xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế môi trường cho Việt Nam.

Đối tượng của sắc thuế này cũng căn cứ vào các nhóm trong quá trình sử dụng gây tác động đến môi trường, gây ô nhiễm. Cụ thể ở đây là các loại nhiên liệu như xăng, dầu mazút, diesen, dầu hoả, nhiên liệu bay, than, chất làm lạnh có chứa hydro-chloro-cacbon (Dung dịch HCFC); túi nhựa xốp, túi nilon, thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử dụng. Những sản phẩm này khi tính vào việc thu thuế môi trường cũng phải tính đến việc không tác động bất lợi đến sức cạnh tranh của nền kinh tế, không gây tăng giá các mặt hàng, tác động lên giá cả và sức mua của người tiêu dùng. Các mức thuế đề xuất thu cũng đã tính đến làm sao doanh nghiệp, các cơ quan và nếu có tác động đến người dân cũng là không đáng kể, thu được, quản lý được.

Trong giai đoạn đầu soạn thảo dự án luật này, ban soạn thảo cũng đã từng đề xuất việc sẽ đưa nhiều loại sản phẩm kể cả như thuốc lá, pin ắcquy, hoá chất sút… nhưng khi lấy ý kiến rộng rãi, có sự góp ý của nhiều chuyên gia thấy không phù hợp nên đối tượng của sắc Thuế môi trường đã được thu hẹp để phù hợp hơn.

PV: Hiện nay chúng ta cũng đang thu phí bảo vệ môi trường, theo ông việc ra đời sắc thuế này có làm ảnh hưởng gì đến các khoản phí môi trường hoặc sẽ gây chồng chéo không?

Ông Vũ Văn Trường: Giữa thuế và phí là hai loại hình thu rất khác biệt. Nói đến thuế là nói đến việc thu theo tính chủ quan của Nhà nước đối với việc thu về một nguồn nào đó, có mục tiêu nhất định. Đối với phí là một hình thức thu rất khách quan, kêu gọi đóng góp của cộng đồng xã hội, của doanh nghiệp và người dân, đóng góp cùng với nhà nước, đỡ các gánh nặng và cùng xây dựng, bảo vệ môi trường. Thuế sẽ cấu tạo luôn một khoản thu vào giá tháng của các sản phẩm, được xác định rõ và giúp người tiêu dùng cần nhắc việc có sử dụng sản phẩm, hàng hoá đó hay không, hay dùng sản phẩm khác thân thiện hơn, giá thành thấp hoặc bằng các sản phẩm có nguy cơ làm ô nhiễm môi trường.

Với hình thức phí cũng thu theo dạng không phải bất cứ ai cũng bị chịu phí môi trường, chỉ thu phí môi trường khi có sự xả, thải những chất làm ô nhiễm ra môi trường công cộng. Cụ thể như ở các khu công nghiệp, các nhà máy xí nghiệp, chất thải, nước thải của họ được xử lý trước khi đưa ra môi trường công cộng, chi phí tính vào doanh thu nên họ sẽ không phải trả khoản phí môi trường cho Nhà nước.

PV: Theo dự thảo Luật Thuế môi trường, một số sản phẩm như xăng dầu và thuốc trừ sâu trong nông nghiệp là những mặt hàng thiết yếu, nếu thu thuế như vậy liệu có làm ảnh hưởng đến giá cả và thu nhập đại  đa số người dân không?

Ông Vũ Văn Trường: Theo chúng tôi, dự thảo luật thuế này nếu được ban hành sẽ không tác động nhiều đến giá cả. Tuy nhiên có một số mặt hàng như túi nhựa, xốp, nilon lại mong muốn tác động mạnh hơn, nhanh hơn làm thay đổi nhận thức và hành vi của người sản xuất và người sử dụng bởi những sản phẩm này thực sự gây hại rất lớn cho môi trường trước mắt và kể cả lâu dài. Việc thay đổi nhận thức của người dân cũng không chỉ trông chờ vào chỉ một chính sách thuế, mà còn phải nhiều chính sách khác nhau.

Ban đầu Ban soạn thảo cũng dự kiến đưa cả phân bón và thuốc trừ sâu vào diện sẽ chịu thuế, nhưng khi khảo sát cho thấy phân bón không nên đưa vào diện đánh thuế bởi nó chiếm tới gần 30% chi phí đầu vào của người nông dân. Trong khi đó, thuốc bảo vệ thực vật chỉ chiếm khoảng 12% chi phí đầu vào và số thuốc bảo vệ thực vật sẽ tính thuế cũng chỉ nằm trong diện rất ít, một số sản phẩm gây hại đặc biệt đến môi trường, cần hạn chế sử dụng và cũng chỉ chiếm khoảng 15% tổng số thuốc bảo vệ thực vật hiện có. Nhóm tác động của thuốc bảo vệ thực vật sẽ bị đánh thuế có một lượng rất nhỏ và trong vấn đề này, chúng ta cũng đã tham khảo các nước, họ cũng thực hiện đánh thuế như vậy với những sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật cần hạn chế sử dụng.

Trong biểu thuế dự kiến cũng đánh thuế đối với xăng dầu bằng khoảng 25% giá bán. Riêng với sản phẩm này là loại hàng hoá tập trung đầu vào chiến lược, đưa vào diện an ninh năng lượng của quốc gia và có quy trình quản lý riêng đối với mặt hàng này. Chính vì lý do đó mà chúng ta khi thiết kế chính sách cho mặt hàng xăng dầu cũng tính đến tính đặc thù của nó, điều hành nó theo cơ chế thị trường và phù hợp với thế giới. Xuất phát từ đó, chúng ta không thể bán xăng dầu với giá cao hơn với các nước xung quanh, tránh xuất lậu và nhập lậu, xoá mờ ranh giới giá. Từ đó chúng ta tính mức thuế phù hợp với thực tế thị trường, tương đồng với các nước.

PV: Vâng, xin cảm ơn ông!

Phúc Thắng (ghi)