Giai đoạn 2 Chương trình 135 (2006-2010) của Chính phủ với mục tiêu tạo sự chuyển biến nhanh về trình độ sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa có thu nhập cao; đến năm 2010, trên địa bàn miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 30% theo chuẩn nghèo mới… đang gặp khó khăn khi thời hạn về đích đã gần kề.

Từ nguồn vốn giai đoạn 2 Chương trình 135 nhân dân thôn Sảng Pả, thị trấn Phong Hải (Bảo Thắng, Lào Cai) được cấp tấm lợp sửa chữa nhà ở. Ảnh: Hữu Tưởng

Hơn một triệu hộ nông dân được hưởng lợi

Tại hội thảo khoa học “Chính sách dân tộc trong những năm đổi mới – thành tựu và những vấn đề đặt ra” do Ủy ban Dân tộc vừa tổ chức, về giai đoạn 2 Chương trình 135, các đại biểu đều thống nhất đánh giá: Mặc dù đang tồn tại không ít bất cập nhưng đây là chương trình “ý Đảng, lòng dân”, thực sự góp phần thay đổi căn bản bộ mặt các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi, giảm tỷ lệ nghèo đói, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Các nội dung chính của Chương trình gồm: Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ sản xuất của đồng bào các dân tộc; Dự án phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn đặc biệt khó khăn; Dự án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở, nâng cao trình độ quản lý hành chính và kinh tế, đào tạo nâng cao năng lực cộng đồng; Hỗ trợ các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân.

Đến nay, sau hơn 3 năm thực hiện, giai đoạn 2 Chương trình 135 đã được triển khai trên địa bàn 1.779 xã, 3.149 thôn, bản đặc biệt khó khăn thuộc 47 tỉnh. Chương trình đã được đầu tư hơn 7.200 tỉ đồng (kinh phí trong 3 năm) từ ngân sách Nhà nước, huy động hơn 300 triệu USD từ các nhà tài trợ quốc tế, đồng thời nhận được sự hưởng ứng tích cực của nhân dân (bình quân mức đóng góp của nhân dân chiếm 5,8% tổng mức đầu tư các công trình, dự án). Đến nay, đã có hơn một triệu hộ nông dân được thụ hưởng trực tiếp từ dự án phát triển sản xuất. Chương trình đã hỗ trợ hơn 2.340 tấn giống cây lương thực; 40 triệu giống cây công nghiệp, lâm nghiệp các loại; 100.000 máy móc, thiết bị; hàng trăm nghìn con giống gia súc, gia cầm; chuyển giao kỹ thuật cho khoảng 212.000 lượt người… Những hoạt động này có tác động rõ rệt, bước đầu tạo sự chuyển biến về nhận thức và tập quán sản xuất của đồng bào theo hướng sản xuất hàng hóa, thay đổi phương pháp làm ăn có hiệu quả hơn. Các mục tiêu về xây dựng cơ sở hạ tầng cũng đã đầu tư xây dựng 8.237 công trình cơ sở, hoàn thành đưa vào sử dụng 5.465 công trình. Về đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công trình đã tổ chức được 4.112 lớp học cho hơn 160.000 lượt cán bộ xã, thôn, bản và 231.000 lượt người dân về kiến thức pháp luật, quản lý dự án, khoa học - kỹ thuật…

Có thể khẳng định, nhờ giai đoạn 2 Chương trình 135 mà tại các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện, năng lực sản xuất của người dân từng bước có chuyển biến tích cực, Chương trình đã góp phần quan trọng giảm tỷ lệ nghèo từ 47% năm 2005 xuống còn 35,6% năm 2008 (bình quân mỗi năm giảm từ 3 đến 4%).

Giao cho cấp xã quản lý: Còn nhiều bất cập

Tuy đạt được những thành tựu to lớn nhưng hầu hết các địa phương đều tồn tại nhiều điểm yếu dẫn đến nhiều địa phương đều báo cáo là khó đạt được mục tiêu đề ra đến năm 2010. Ví dụ như giai đoạn 2 Chương trình 135 ở tỉnh Quảng Ngãi, với 43 xã đặc biệt khó khăn và 31 thôn đặc biệt khó khăn đã triển khai hàng loạt dự án, công trình, nhưng đến nay hầu như nơi nào cũng bị chậm tiến độ. Như “Dự án cơ sở hạ tầng”, đầu năm 2009, tỉnh đã phân bổ vốn cho các địa phương 35,6 tỉ đồng, thực hiện ở 119 công trình. Thế nhưng mới chỉ có 86 công trình được triển khai, trong đó nhiều công trình mới chỉ triển khai trên giấy. Nguyên nhân của tình trạng này là do nguồn vốn được giao về các xã, huyện thì các địa phương này dùng nguồn vốn trên để lo… trả nợ những công trình khác đã làm từ trước đó.

Thực tế ở Quảng Ngãi phản ánh một điểm yếu của giai đoạn 2 Chương trình 135. Trong giai đoạn này, Chính phủ chủ trương phân cấp cho chính quyền cấp xã làm chủ đầu tư. Nhưng trên thực tế, phần lớn cán bộ cấp xã hiện nay chưa đủ trình độ quản lý dự án, nên xảy ra 2 bất cập. Có nơi vin vào nguyên nhân này để phân cấp quản lý dự án theo kiểu hình thức, thực chất thì tỉnh, huyện vẫn “làm thay”, có nơi lại phó mặc, không cử cán bộ chuyên môn tăng cường, giúp đỡ cấp xã. Cả hai nguyên nhân này đều dẫn tới tình trạng vốn đầu tư của Chương trình chưa đi đến nơi hoặc bị sử dụng lãng phí, hiệu quả thấp.

Việc đưa nguồn vốn trực tiếp đến các xã còn dẫn đến tình trạng đầu tư cục bộ, thiếu hệ thống nên chưa phát huy được hiệu quả. Ví dụ: Ở Quảng Nam, một số huyện chưa có đường giao thông đến xã, song giai đoạn 2 Chương trình 135 lại đầu tư cho xã phát triển giao thông từ xã đến thôn. Kết quả là giao thông trong xã có thuận lợi nhưng đường vào xã vẫn “bế tắc”, đồng bào không có điều kiện tiếp xúc, giao lưu học hỏi phương thức sản xuất, làm ăn mới từ bên ngoài, ảnh hưởng không nhỏ đến mục tiêu phá thế cô lập giao thông để sản xuất hàng hóa.

Việc giao cho cấp xã làm chủ đầu tư nhưng phân bổ nguồn vốn bắt buộc phải trải qua các cấp tỉnh, huyện cũng dẫn đến nhiều công trình, dự án bị chậm vốn, thiếu linh động, gây lãng phí hoặc không đạt hiệu quả đề ra. Đơn cử như ở Phú Thọ, trong dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, do phân bổ và giao vốn chưa kịp thời, không đúng thời vụ, nên một số tiểu dự án hỗ trợ nông dân trồng chuối sai thời vụ, gây thiệt hại cho người thụ hưởng. Tình trạng chậm phân vốn cho các tiểu dự án, chậm bàn giao công trình, công trình bị xuống cấp nhưng chưa được cấp kinh phí duy tu hoặc một số công trình hoàn thành bàn giao từ năm 2006, nhưng đến nay vẫn chưa đưa vào sử dụng, vì thế có nhiều hạng mục bị xuống cấp, hư hỏng… diễn ra ở khá nhiều địa phương. Công tác truyền thông về Chương trình khi về đến xã cũng bị hạn chế như: Một số xã chưa công khai thông tin về giai đoạn 2 Chương trình 135; hoặc thông tin nhưng chưa rõ nội dung, mức hỗ trợ, đối tượng hưởng lợi… của Chương trình, chưa gắn biển Công trình 135 theo quy định.

Còn 1,5 năm để “về đích”

Ông Võ Văn Bẩy, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách Dân tộc (Ủy ban Dân tộc) cho biết: Với thời gian còn lại là 1,5 năm, Ủy ban Dân tộc đang chỉ đạo quyết liệt đối với các địa phương nhằm đẩy nhanh tiến độ, khắc phục những hạn chế để hoàn thành các mục tiêu đề ra. Đối với những bất cập do trình độ cán bộ cấp xã, Ủy ban Dân tộc vẫn kiên trì nguyên tắc giao cấp xã làm chủ đầu tư và phấn đấu đến năm 2010, 100% xã làm chủ đầu tư (hiện mới đạt 55,6%). Bởi trên thực tế, chính nhờ quản lý dự án nên 160.000 lượt cán bộ cấp xã, thôn, bản đã được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực về cách quản lý các dự án, biết cách lập kế hoạch có sự tham gia của nhân dân, hiểu nguyên tắc thanh, quyết toán công trình… Đây là cơ sở quan trọng để đội ngũ cán bộ xã chủ động trong công việc, dám nghĩ, dám làm trong chỉ đạo xóa đói, giảm nghèo cho địa phương mình. Để khắc phục yếu kém trước mắt, Ủy ban Dân tộc yêu cầu các tỉnh, huyện tăng cường cử cán bộ có trình độ chuyên môn về trực tiếp tư vấn, giúp đỡ các xã để các tiểu dự án thực hiện đúng tiến độ. Kiên quyết không vì lý do trình độ mà không phân cấp đầu tư cho cấp xã.

Cùng với việc chỉ đạo các địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện giai đoạn 2 Chương trình 135, Ủy ban Dân tộc sẽ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng Chương trình phát triển kinh tế-xã hội các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn giai đoạn 2010-2015 trình Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở kế thừa và bổ sung những nội dung có tính chiến lược nhằm phát huy vai trò là mũi nhọn xung kích trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta.

Hồng Hải