Liên tục những tháng cuối năm 2008 và 2 tháng đầu năm 2009, tình hình người lao động mất việc ngày càng nóng lên. Nhiều con số và dự báo được đưa ra. Chính phủ đã ban hành Quyết định 30 về việc hỗ trợ người lao động mất việc làm do doanh nghiệp bị ảnh hưởng của suy giảm kinh tế. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Đại Đồng, Cục trưởng Cục Việc làm (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) về vấn đề này.

Những con số ảo

- Thời gian qua đã có rất nhiều thông tin khác nhau về tình hình lao động mất việc làm. Đồng chí đánh giá thế nào về tình hình thị trường lao động trong nước hiện nay?

- Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn tới suy giảm kinh tế trong nước và tác động xấu tới thị trường lao động là điều không thể tránh khỏi. Việt Nam cũng như rất nhiều quốc gia khác đang phải gánh chịu tình trạng lao động mất việc làm. Tuy nhiên tới thời điểm này, chúng tôi có thể khẳng định, tình hình chưa đến mức bi đát như một số phương tiện truyền thông đã đưa. Những thông tin và con số đưa ra từ nhiều nguồn khác nhau, làm cho mức độ nghiêm trọng của vấn đề tăng thêm.

Đồng chí Nguyễn Đại Đồng, Cục trưởng Cục Việc làm (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội)

Ngay đầu năm nay chúng tôi đã đi thực tế ở nhiều địa phương và thu thập báo cáo từ 41 tỉnh, thành phố trong cả nước. Cho tới tháng 2-2009 chúng ta mới chỉ có khoảng 67.000 người lao động mất việc làm, dự báo của chúng tôi là 6 tháng đầu năm có khoảng 300.000 lao động mất việc và cả năm sẽ là hơn 400.000 người. Con số dự báo vẫn chỉ là dự báo, thị trường lao động còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng nếu cứ đưa tin với những con số và viễn cảnh xấu về người lao động mất việc làm thì chính chúng ta sẽ làm trầm trọng hơn những khó khăn cho mình.

- Tại sao lại có nhiều con số dự báo ảo như vậy?

- Cần phải hiểu rằng, hiện nay nước ta có lực lượng lao động khoảng 45 triệu người nhưng trong đó có tới 70% ở khu vực nông thôn, trong diện lao động phi chính thức, không có quan hệ lao động. Như vậy, khủng hoảng chỉ tác động chủ yếu vào nhóm hơn 20% lao động chính thức nằm ở các thành phố, đô thị lớn, khu công nghiệp, khu chế xuất… Khi dẫn chứng số liệu cần phải tính đến đặc điểm này của thị trường lao động Việt Nam. Thêm vào đó chúng ta lại có nền công nghiệp phân bố không đều, lực lượng lao động chính thức chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Hải Phòng… Khi mất việc làm, những lao động này trở về nông thôn hay chuyển sang làm việc ở các doanh nghiệp khác chúng ta đều không nắm được.

Trên thực tế, báo cáo của các doanh nghiệp chỉ đề cập tới việc lao động mất việc làm chứ không hề nói tới việc tiếp nhận thêm lao động. Ví dụ như Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 70% trong số 19.000 người lao động mất việc làm đã tìm được việc làm mới. Như vậy số người lao động mất việc làm thực tế không còn nhiều. Thông thường, sau khi nghỉ về quê ăn tết, lao động thường có tâm lý ra làm rất muộn, có khi qua rằm tháng Giêng cả chục ngày. Khi đó, doanh nghiệp đã tính số lao động này vào báo cáo số người mất việc làm, khiến cho con số ảo tiếp tục tăng. Thực tế là số người lao động sau tết đi làm muộn, cũng rất đông.

Cần bình tĩnh, tránh bi quan!

- Trước tình hình trên, doanh nghiệp cần xử trí ra sao?

- Nếu so với thế giới, lực lượng lao động trong nhóm chính thức bị ảnh hưởng bởi suy giảm kinh tế của chúng ta không nhiều. Các doanh nghiệp không nên bi quan và hạn chế tối đa việc sa thải hàng loạt người lao động. Khi diễn biến thị trường có dấu hiệu phục hồi, doanh nghiệp sẽ thiếu lao động trầm trọng. Hậu quả sẽ nghiêm trọng hơn là việc cắt giảm lao động. Doanh nghiệp nên có giải pháp níu giữ lao động bằng cách tiết kiệm chi tiêu, đổi mới phương thức sản xuất… Khi phải cắt giảm lao động, cần nghiên cứu và tính toán thật kỹ.

Thực tế cho thấy nhu cầu tìm lao động vẫn rất cao, tại nhiều khu công nghiệp lớn, doanh nghiệp này vừa cắt giảm lao động, doanh nghiệp khác đã sẵn sàng tiếp nhận ngay… Ví dụ như tỉnh Đồng Nai vừa có khoảng 10.000 lao động mất việc làm, nhưng nhu cầu lao động mới trong năm của tỉnh lại lên tới 50.000 người. Các doanh nghiệp thường có phản ứng tâm lý dây chuyền trước tác động của khủng hoảng kinh tế bằng cách sa thải ồ ạt người lao động. Đây đang là giai đoạn khó khăn, nếu doanh nghiệp nào đủ bản lĩnh và sự tỉnh táo, biết tranh thủ nhiều biện pháp hỗ trợ của Chính phủ và sáng tạo trong hoạt động của mình thì sẽ vượt qua thử thách để tiếp tục phát triển.

- Vậy người lao động mất việc sẽ phải làm gì trong lúc này?

Người lao động làm việc tại Công ty Honda Việt Nam. Ảnh: Lê Thiết Hùng

- Người lao động ở Việt Nam có một lợi thế rất lớn là có hậu phương nông thôn vững chắc. Theo tính toán của chúng tôi, hơn 70% người lao động mất việc vẫn có thể trở về với nông thôn, với đồng ruộng và làm những công việc phổ thông vốn rất quen thuộc. Với những công việc này họ vẫn có thể từng bước khắc phục khó khăn. Đó là chưa kể nông thôn của chúng ta có một hệ thống làng nghề phong phú vẫn đang tiếp tục tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Hơn nữa hiện nay dòng di chuyển của thị trường lao động đang có xu hướng trải đều về các khu vực nông thôn và miền núi như các tỉnh Thanh Hóa, Thái Bình, Bắc Giang, Quảng Ninh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre… Các khu công nghiệp, khu chế xuất, nhà máy đã dần hình thành ở rất nhiều địa phương. Nếu người lao động ở các thành phố lớn bị sa thải, họ có thể trở về quê làm việc, có thể vẫn có mức thu nhập như vậy nhưng chi phí sinh hoạt sẽ thấp hơn, đời sống yên ổn và dễ chịu hơn nhiều vì được ở gần gia đình.

Sẽ có nhiều biện pháp hỗ trợ người lao động mất việc

- Chính phủ vừa ban hành Quyết định 30 để hỗ trợ người lao động mất việc. Các biện pháp triển khai cụ thể ra sao?

- Quyết định 30 là một trong những giải pháp chung cùng với nhiều biện pháp khác như hoãn, giảm thuế, giãn nợ… Chính phủ sẽ cho doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế vay tiền trả nợ lương, đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động với thời hạn 12 tháng, lãi suất 0%. Đồng thời người lao động mất việc sẽ nhận được hỗ trợ. Đối với hơn 2.000 lao động mất việc ở các doanh nghiệp có chủ bỏ trốn, ngân sách từ các địa phương sẽ phải tạm ứng để trả lương theo hợp đồng cho người lao động. Phần bù lại ngân sách sẽ được tính sau khi xử lý tài sản của doanh nghiệp theo luật định. Ngoài ra, người lao động mất việc cũng sẽ được vay vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm để học nghề hoặc tự tạo việc làm theo chế độ tín dụng áp dụng cho học sinh, sinh viên. Đối với những lao động mất việc trước năm 2009, không nhận được hỗ trợ từ Quyết định 30 thì cũng sẽ được vay vốn theo thông tư 14 của Chương trình Quốc gia giải quyết việc làm. Với Quyết định 30, chúng tôi hoàn thành thông tư hướng dẫn liên Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính trong đầu tháng 3, để cuối tháng 3 người lao động mất việc được hưởng hỗ trợ. Cùng với đó, Chính phủ cũng đang triển khai xây dựng các đề án về việc hỗ trợ dạy nghề để xuất khẩu lao động cho người dân 61 huyện nghèo, đề án dạy nghề cho 1 triệu nông dân, kết hợp với các chương trình trước đó như Chương trình 134, 135, giao đất, giao rừng… Có thể khẳng định, người lao động sẽ nhận được rất nhiều sự hỗ trợ từ nhiều phía.

- Theo đồng chí, khó khăn nhất khi triển khai hỗ trợ cho người lao động mất việc là gì?

- Khó khăn lớn nhất là do lao động nước ta chủ yếu là lao động tự do từ nông thôn ra thành phố; khi tuyển dụng lao động, doanh nghiệp thường không quản lý đầu vào như quê quán, địa chỉ gia đình, điện thoại liên lạc… Khi người lao động mất việc, có thể họ chuyển sang doanh nghiệp khác hoặc trở về quê nhưng chúng ta không biết địa chỉ và tình trạng cụ thể để hỗ trợ trực tiếp. Từ trước đến nay, khâu quản lý, nắm thực trạng lao động, thị trường lao động ở trong nước vẫn còn nhiều yếu kém dẫn tới nhiều dự báo, chính sách chưa thật chuẩn.

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ cũng đã nhắc nhở, phê bình một số cơ quan chức năng liên quan trong việc quản lý và nắm thông tin về người lao động. Nhận thấy điều đó, chúng tôi đang nghiên cứu và tham khảo biện pháp cấp thẻ lao động cho từng người lao động như ở các nước có thị trường lao động phát triển. Khi đó người lao động dù có việc làm hay không, tình trạng thế nào chúng ta sẽ biết được. Tuy nhiên, nếu đề án này khả thi và được hoàn thiện thì tới năm 2010 mới có thể trình Chính phủ phê duyệt.

- Xin cảm ơn đồng chí!

HOÀNG TRƯỜNG GIANG (thực hiện)