Ai đã có dịp đi qua thị xã Lai Châu (mới) của tỉnh Lai Châu mới thấy, đúng là ở đây cái gì cũng thiếu, chỉ có... núi và gió là thừa. Mà có lẽ cái thiếu nhất chính là nước, bởi ở miền “đất gió” này (trước đây vùng này thuộc huyện Phong Thổ có nghĩa là “đất gió”) không có một dòng sông chảy qua và không có hồ đập nào lớn. Để có được nước sinh hoạt như hôm nay là cả một câu chuyện về nỗ lực của chính quyền và ngành cấp nước.
Nhân dịp kỷ niệm 5 năm chia tách tỉnh, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Cao Cửu, Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng và Cấp nước Lai Châu về hành trình đi tìm nước trên vùng “đất gió” này.
- Ông có thể cho biết về tình trạng nước sinh hoạt của thị xã Lai Châu khi mới chia tách?
 |
|
Ông Nguyễn Cao Cửu, Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng và Cấp nước Lai Châu
|
- Tháng 1-2004, trung tâm hành chính tỉnh Lai Châu chuyển về đây, cả thị xã chỉ có một đường ống nước nhỏ từ suối Tà Lèng được lắp đặt năm 1997, cách thị xã 11km đưa nước trực tiếp về. Sau 7 năm không được sửa chữa, ống hỏng, nước về thất thoát tới hơn 70%, mặc dù đây chỉ là nước thô từ suối chưa hề được xử lý. Khi nhận bàn giao hồ sơ có 702 hộ ở thị xã được dùng nguồn “nước máy” này nhưng trên thực tế chỉ có 398 hộ có nước, hàng trăm hộ khác có nước phập phù hoặc cả năm không có do nước bị thất thoát. Sau khi thành lập thị xã mới, hàng trăm hộ gia đình cán bộ, cùng cả hệ thống sở, ngành của tỉnh chuyển từ Điện Biên sang khiến cho nhu cầu sử dụng nước máy tăng cả trăm lần. Mỗi buổi sáng đứng ở đường tôi có thể đếm được gần 40 chuyến xe công nông của tư nhân chở nước không rõ nguồn gốc xuất xứ đi bán với giá 30.000 đồng/mét khối. Khi đó không chỉ người dân thiếu nước mà các cơ quan của tỉnh, thậm chí cơ quan đầu não cùng đều không có nước sạch dùng. Nước trở thành vấn đề vô cùng cấp thiết.
- Chính quyền và ngành nước đã vào cuộc “săn tìm” nguồn nước như thế nào?
- Trước tình hình đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phải đầu tư ngay 4 tỉ đồng lắp 7km ống gang thay thế đường ống từ suối Tà Lèng về để giải quyết thất thoát nước cũ. Sau đó tỉnh thành lập các đoàn khảo sát liên ngành giữa công ty với Sở Tài nguyên và Môi trường… liên tục đi lên các dãy núi xung quanh thị xã để tìm nguồn nước. Khó khăn của thị xã Lai Châu là không có dòng sông nào chảy qua, con sông Nậm Na gần nhất cũng cách tới 30km và cũng không có hồ, đập nào lớn có thể sử dụng nguồn nước được. Hàng tháng trời, các đoàn khảo sát đã phải thay nhau leo lên các đỉnh núi, các bản người Mông để tìm hiểu và hỏi người dân về các nguồn nước từ núi chảy ra. Được tỉnh ủng hộ chủ trương và tài chính cùng với sự nỗ lực không ngừng, sau mỗi năm chúng tôi đều tìm thêm được một nguồn nước mới. Đến nay đã có 4 nguồn với 4 trạm bơm công suất lớn cung cấp hơn 5.000m3 nước một ngày/đêm cho thị xã.
- Sau khi tìm thấy nguồn nước, công ty đã triển khai đưa nước về thế nào?
- Tìm thấy nguồn nước, tỉnh đã đầu tư 3 tỉ đồng giao cho công ty xây dựng một nhà máy cấp nước có công suất 3.000m3 ngày/đêm, đưa hóa chất đến tất cả các trạm bơm để xử lý nước đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Đồng thời tỉnh hỗ trợ 60% tiền mua mới 1.300 đồng hồ lắp đặt cho các hộ dân. Hiện nay nhu cầu sử dụng nước của thị xã mỗi năm tăng thêm khoảng 1.000 hộ sử dụng và gấp 50 lần khi mới thành lập, công ty đã đáp ứng cung cấp nước được cho hơn 4.200 hộ dân và 386 cơ quan, ban ngành, từ 1-6-2008 toàn bộ nguồn nước đã được xử lý đúng tiêu chuẩn. Tuy nhiên, do đời sống nhân nhân còn nhiều khó khăn nên tỉnh vẫn phải bù lỗ giá nước sinh hoạt hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Giá nước tại thị xã Lai Châu theo quy định từ năm 2004 đến nay vẫn là 1.800 đồng/m3, trong khi đó giá nước thấp nhất hiện tại cũng là 3.500 đồng/m3, tại Sa Pa gần nhất là 7.000 đồng/m3 còn ở thành phố Điện Biên Phủ là 4.500 đồng/m3. Chính quyền và Công ty đã chủ trương để giá nước thấp nhất hỗ trợ đời sống người dân ở thị xã mới, chính vì vậy ngay cả giá nước uống tinh khiết (theo công nghệ lọc RO của Mỹ) của công ty cũng chỉ bán với giá 10.000 đồng/bình (giá thấp nhất hiện nay trên thị trường là 18.000 đồng/bình).
- Tình trạng nước sinh hoạt của thị xã và toàn tỉnh hiện nay và trong thời gian tới như thế nào?
- Tỉnh và Công ty đã rất nỗ lực nhưng hiện tại lượng nước sạch cung cấp ở thị xã vẫn chỉ đáp ứng 50% nhu cầu sử dụng do dân số đã tăng lên quá nhanh. Mỗi tháng có cả 400-500 hồ sơ đăng ký lắp nước mà chúng tôi không đáp ứng được. Đối với các huyện Tam Đường, Sìn Hồ, Than Uyên cơ bản đều đã có nước sạch ở trung tâm huyện, tại huyện Phong Thổ cũng đang chuẩn bị xây dựng một nhà máy cấp nước. Khó khăn nhất hiện nay là huyện Tân Uyên mới chia tách chưa có nhà máy và huyện Mường Tè do điều kiện quá xa xôi và dân cư thưa thớt nên việc cung cấp nước gặp trở ngại. Thời gian tới chúng tôi sẽ đầu tư xây dựng nhà máy tại Tân Uyên và nghiên cứu tìm phương án mới để đáp ứng đủ nước sạch cho thị xã và huyện Mường Tè.
- Xin cảm ơn ông!
HOÀNG TRƯỜNG GIANG (thực hiện)