Sau một năm 4 tháng chuẩn bị, ngày 5-1, tại TP Hồ Chí Minh, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về chất lượng giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam. Tham dự Hội nghị có lãnh đạo hơn 300 trường đại học và cao đẳng trong cả nước. Phó thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân chủ trì hội nghị.

Chưa tiếp cận trình độ khu vực

Theo đánh giá của lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện nay, hệ thống GDĐH Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển và hoàn chỉnh về chất và lượng theo xu thế phát triển chung của thế giới. Mạng lưới GDĐH được phân bổ rộng khắp trong cả nước, đa dạng hóa về loại hình trường, ngành nghề, phương thức đào tạo, nguồn lực… theo hướng hội nhập với xu thế chung của thế giới. Quy mô đào tạo tăng nhanh, từng bước đáp ứng nhu cầu học tập và đào tạo của xã hội. Chất lượng đào tạo đã có những chuyển biến tốt về nhiều mặt, các hoạt động đánh giá, bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng đã có những tác động tích cực trong công tác quản lý, đào tạo của các trường đại học và cao đẳng…

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phát biểu tại Hội nghị - Ảnh: Website Chính phủ.
Tuy nhiên, hệ thống GDĐH của nước ta vẫn chưa tiếp cận trình độ tiên tiến của các nước trong khu vực và trên thế giới; chưa theo kịp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội; chưa thực sự gắn với nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực có trình độ cao của các ngành, các địa phương; chưa sáng tạo ra những tri thức mới. Công tác quản lý, đặc biệt là quản lý chất lượng còn khá nhiều bất cập…

Việc thành lập các trường đại học trong thời gian qua cho thấy, các tiêu chí quy định về điều kiện, thủ tục chưa rõ ràng, ít định lượng, ít được đổi mới cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Quản lý chất lượng chưa đồng bộ, phần lớn dựa trên nguyên tắc kiểm soát chất lượng đầu vào, chưa chú ý bảo đảm chất lượng trong quá trình đào tạo và chất lượng đầu ra. Đến nay, nhiều trường đại học vẫn phải thuê mướn từ phòng học, mặt bằng đến cả giảng viên các cơ sở đào tạo khác. Nhiều chuyên ngành đào tạo thiếu trầm trọng đội ngũ giảng viên và cán bộ nghiên cứu.

Để chuẩn bị cho hội nghị này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành kiểm định chất lượng đào tạo ở 20 trường đại học thuộc tốp trên của Việt Nam, qua đó vạch ra những khiếm khuyết trong chương trình đào tạo và cơ sở vật chất. Vẫn còn một số trường chưa công bố công khai chương trình giảng dạy trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên website của trường. Còn nhiều hạn chế trong xây dựng chương trình đào tạo, không xây dựng theo cấu trúc của Bộ quy định, nhiều nội dung quá cũ kỹ, cả trong cách gọi tên các học phần. Nhiều trường còn triển khai đào tạo trong tình trạng thiếu giáo trình và tài liệu tham khảo cho nhiều môn học. Khi điều chỉnh, bổ sung chương trình đào tạo, khá nhiều trường chưa tham khảo đầy đủ, chưa định kỳ lấy ý kiến phản hồi từ các cựu sinh viên, các nhà tuyển dụng, các doanh nghiệp, các đối tượng liên quan để xác định mức độ chương trình đào tạo của nhà trường đáp ứng các nhu cầu của xã hội.

Bỏ quên yêu cầu của xã hội

Việc làm của sinh viên tốt nghiệp là chỉ số quan trọng để đánh giá chất lượng hoạt động đào tạo của các trường. Theo Thứ trưởng Bành Tiến Long, phẩm chất của sinh viên khi tốt nghiệp đại học cần được đánh giá theo các yếu tố: kiến thức và kỹ năng, phẩm chất cá nhân, phẩm chất chính trị đạo đức, năng lực chuyên môn và khả năng làm việc. Nhưng nhiều năm qua chúng ta chưa có các khảo sát định kỳ, tổng thể về những kỹ năng, phẩm chất cần có của sinh viên. Đa số các trường chưa quan tâm, chưa có thói quen thu thập, lưu giữ các thông tin liên quan tới “sản phẩm đầu ra” của trường mình. Số liệu khảo sát mới đây cho thấy, có 90,93% sinh viên tốt nghiệp đại học có việc làm và có thu nhập; 60,31% trong số này có công việc phù hợp theo nghĩa tìm được việc làm đáp ứng yêu cầu của người tuyển dụng và chỉ có 8% sinh viên tốt nghiệp của 89 trường làm việc đúng ngành được đào tạo. Điều này cho thấy, từ lâu mối quan hệ giữa chất lượng đào tạo của các trường đại học và yêu cầu của xã hội đã bị bỏ quên.

Một trong những căn cứ để nhà trường gần hơn với xã hội trong mục tiêu, chương trình, chất lượng đào tạo là đánh giá việc nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. So sánh các chỉ số công bố kết quả nghiên cứu khoa học trên các tạp chí quốc tế của các trường đại học Việt Nam với các nước lân cận trong khu vực, có thể thấy vị trí các trường đại học Việt Nam còn khá khiêm tốn, nếu không muốn nói là rất thấp. Theo báo cáo phát triển của Ngân hàng Thế giới, riêng trong năm 2006, hai trung tâm khoa học lớn là Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Bách khoa Hà Nội chỉ có 34 công trình khoa học được công bố có tên trong danh sách, trong khi đó, của Đại học Quốc gia Xơ-un (Hàn Quốc) là 4.556 ấn phẩm khoa học, của Đại học Bắc Kinh (Trung Quốc) là gần 3.000 công trình!

Đầu tư nước ngoài góp phần nâng chất lượng

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, chất lượng GDĐH là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế và xã hội. Có cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao, tri thức sáng tạo, mới nâng cao khả năng cạnh tranh, nâng lợi thế trong thu hút đầu tư nước ngoài. Nhằm giải quyết các hạn chế của GDĐH, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân cho rằng, chất lượng giảng dạy của các trường đại học ở Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức rất lớn, đặc biệt là từ khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). 2 năm trở lại đây, làn sóng đầu tư nước ngoài gia tăng mạnh trong đó có trên dưới 10 dự án thuộc lĩnh vực công nghệ cao, đòi hỏi hàng vạn lao động có trình độ, nên giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng, phải đánh giá sát thực lực, trình độ của mình.

Với hơn 300 trường đại học và cao đẳng, chừng mực nào đó đã đáp ứng nhu cầu về lao động, nhưng với các doanh nghiệp gắn với công nghệ cao, đòi hỏi chúng ta phải có các dự án “giáo dục” tương ứng. Từ kết quả của hội nghị này, Bộ sẽ tổ chức tiếp hội nghị với những người sử dụng lao động, với đại diện các tổng công ty, hội doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài… để thu nhận các ý kiến, cam kết của họ, thúc đẩy nâng cao chất lượng đào tạo. Trong 3 năm, từ 2008 đến 2010, Bộ sẽ tiến hành thực hiện ba nhóm giải pháp: Hỗ trợ các trường đại học nghiên cứu và có khả năng tiếp cận các chương trình tiên tiến của thế giới nhằm mục tiêu đổi mới chương trình và công tác giảng dạy, phấn đấu có một nhóm khoảng 20 trường đại học ứng dụng chương trình giảng dạy của nước ngoài; đưa đi đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài, với những yêu cầu cao hơn so với trước đây.

Ngoài hai Đại học Quốc gia, phối hợp với các nước tiên tiến, Bộ sẽ thành lập các trường đại học mới, có trình độ cao hơn (Đại học Việt - Đức tại TP Hồ Chí Minh; Đại học Công nghệ Việt Nam tại Hà Nội), trong đó đưa giáo trình, công nghệ và chất lượng của các nước vào chương trình đào tạo, dạy bằng tiếng Anh. Trong năm học đầu, sẽ có khoảng 80% giảng viên là người nước ngoài. Phấn đấu đến hết năm thứ tư, sinh viên có thể bảo vệ luận án tốt nghiệp bằng tiếng Anh. Trong những năm tiếp theo, chúng ta tiếp tục kêu gọi các nước khác vào Việt Nam mở cơ sở giáo dục đại học…

VĂN DŨNG